PHÂN TÍCH “TẢN VIÊN PHÁN SỰ LỤC” CỦA NGUYỄN DỮ

Học văn Cô Diệu Thu giới thiệu bài phân tích truyện truyền kỳ “Tản Viên phán sự lục” của Nguyễn Dữ, một tác phẩm đặc sắc trong Truyền kỳ mạn lục, nơi yếu tố kỳ ảo được sử dụng để soi chiếu những vấn đề sâu sắc của đời sống. Qua hình tượng Ngô Tử Văn, nhà văn làm nổi bật vẻ đẹp của một kẻ sĩ cương trực, quả cảm, dám đối diện với gian tà và bảo vệ sự thật ngay cả khi phải bước vào chốn Minh ti. Từ đó, tác phẩm khẳng định sức mạnh của chính nghĩa, phẩm giá và khí tiết con người trước quyền lực, đồng thời gửi gắm lời nhắn nhủ sâu sắc về cách sống không khuất phục trước cái sai.

VĂN BẢN:

Ngô Tử Văn tên là Soạn, người huyện Yên Dũng, đất Lạng Giang. Chàng vốn khảng khái, nóng nảy, thấy sự tà gian thì không thể chịu được, vùng Bắc người ta vẫn khen là một người cương trực. Trong làng trước có một ngôi đền linh ứng lắm. Cuối đời nhà Hồ, quân Ngô sang lấn cướp, vùng ấy thành một nơi chiến trường. Bộ tướng của Mộc Thạnh có viên Bách hộ họ Thói, tử trận ở gần đền, từ đấy làm yêu làm quải trong dân gian. Tử Văn rất tức giận, một hôm tắm gội sạch sẽ, khấn trời, rồi châm lửa đốt đền. Mọi người đều lắc đầu lè lưỡi, lo sợ thay cho Tử Văn, nhưng chàng vẫn vung tay không cần gì cả.

 

Đốt đền xong, chàng về nhà, thấy trong mình khó chịu, đầu lảo đảo và bụng run run, rồi nổi lên một con sốt nóng sốt rét. Trong khi sốt, chàng thấy một người khôi ngô, cao lớn, đầu đội mũ trụ đi đến, nói năng và quần áo rất giống người phương Bắc, tự xưng là cư sĩ, đến đòi làm trả lại ngôi đền như cũ và nói :

 

– Nhà người đã theo nghiệp nho, đọc sách vở của thánh hiền, há không biết cái đức của quỷ thần sao, cở gì lại dám khinh nhờn huỷ tượng, đốt đền, khiến cho hương lửa không có chỗ tựa nương, oai linh không có nơi hiển hiện, vậy bảo làm sao bây giờ ? Biết điều thì dựng trả ngôi đền như cũ. Nếu không thì, vô có huỷ đền Lư Sơn, Cố Thiệu sẽ khó lòng tránh khỏi tai vạ.

 

Tử Văn mặc kệ, vẫn cứ ngồi ngất ngưởng tự nhiên. Người kia tức giận nói :

 

– Phong đô không xa xôi gì, ta tuy hèn, há lại không đem nổi nhà người đến đấy. Không nghe lòi ta thì rồi sẽ biết.

 

Nói rồi phất ảo đi.

 

Chiều tối, lại có một ống già, áo vải mũ đen, phong độ nhàn nhã, thủng thỉnh đi vào đến trước thềm, vái chào mà rằng :

 

– Tôi là Thổ công ở đây, nghe thấy việc làm rất thú của nhà thầy, vậy xin đến để tỏ lời mừng

 

Tử Văn kinh ngạc nói :

 

– Thế người đội mũ trụ đến đây ban nãy, chẳng phải là Thổ công đấy ư ? Sao mà nhiều thần quá vậy ?

 

Ông già nói :

 

– Ô, đấy là viên tướng bại trận của Bắc triều, cái hồn bơ vơ ở Nam quốc, tranh chiếm miếu đền của tôi, giả mạo họ tên của tôi, quen dùng chước dối lừa, thích làm trò thảm ngược, Thượng đế bị nó bưng bít, hạ dân bị nó quấy rầy, phàm những việc hưng yêu tác quái đều tự nó cả, chứ có phải tôi dâu. Xin kể đầu đuôi để nhà thầy nghe:

 

“Tôi làm chức Ngự sử đại phu từ đời vua Li Nam Đế, vì chết về việc cần vương mà dược phong ở đây, giúp dân độ vật dã hơn một nghìn năm nay, khi nào lại làm việc gieo tại rắc vạ để kiếm miếng ăn như tên giặc giảo hoạt kia đã làm. Gần đây vì tôi thiếu sự đề phòng, bị nó đánh đuổi, nên phải đến nương tựa ở đền Tản Viên đã vài năm nay”.

 

Tử Văn nói :

 

– Việc xảy ra đến như thế, sao ngài không kiện ở Diêm Vương và tâu lên Thượng đế, lại đi khinh bỏ chức vị, làm một người áo vải nhà quê ?

 

Ông già chau mặt nói :

 

– Rễ ác mọc lan, khó lòng lay động. Tôi đã định thưa kiện, nhưng mà có nhiều nỗi ngăn trở: Những đền miếu gần quanh, vì tham của đút, đều bênh vực cho nó cả. Tôi chỉ giữ được một chút lòng thành, nhưng không làm thế nào để thông đạt được lên, cho nên đành tạm ẩn nhẫn mà ngồi xó một nơi.

 

Tử Văn nói :

 

– Hắn có thực là tay hung hãn, có thể gieo vạ cho tôi không ?

 

– Hắn quyết chống chọi với nhà thầy, hiện đã kiện thầy ở Minh ti. Tôi nhân lúc hắn đi vắng lên đến đây báo cho nhà thầy biết để mà liệu kế, khỏi phải chết một cách oan uổng.

 

Ông già lại dặn Tử Văn :

 

– Hễ ở Minh ti có tra hỏi, thầy cứ khai ra những lời nói của tôi. Nếu hắn chối, thầy kêu xin tư giấy đến đền Tản Viên, tôi sẽ khai rõ thì nó phải đở miệng. Nếu không như thế thì tôi đến vùi lấp trọn đời mà thầy cũng khó lòng thoát nạn.

 

Tử Văn vâng lời. Đến đêm, bệnh càng nặng thêm, rồi thấy hai tên quỷ sứ đến bắt đi rất gấp, kéo ra ngoài thành về phía đông. Đi độ nửa ngày đến một toà nhà rất lớn, xung quanh có thành sắt cao vọi đến mấy chục trượng. Hai tên quỷ đến nói với người canh cổng, người canh cổng đi vào một lúc rồi ra truyền chỉ rằng :

 

– Tội sâu ác nặng, không được dự vào hàng khoan giảm.

 

Nói rồi xua tay bảo đi ra phía bắc. Ở đó có một con sông lớn, trên sông bắc một cái cầu dài ước hơn nghìn thước, gió tanh sóng xám, hơi lạnh thấu xương. Hai bên cầu có đến mấy vạn quỷ Dạ Xoa đều mắt xanh tóc đỏ, hình dáng nanh ác. Hai con quỷ dùng gông dài, thừng lớn gông trói Tử Văn mà giải đi rất nhanh.

 

Tử Văn kêu to :

 

– Ngô Soạn này là một kẻ sĩ ngay thẳng ở trần gian, có tội lỗi gì xin bảo cho, không nên bắt phải chết một cách oan uổng.

 

Chợt nghe trên điện cỏ lời quát :

 

– Tên này bướng bỉnh ngoan cố, nếu không phản đoán cho rõ, chưa chắc nó đã chịu nhận tội.

 

Bèn sai dẫn Tử Văn vào cứa điện. Tử Văn vào đến nơi, thấy người đội mũ trụ đang kêu cầu ở trước sân.

 

Diêm Vương mắng Văn rằng :

 

– Kẻ kia là một người cư sĩ, trung thuần lẫm liệt, có công với tiên triều, nên hoàng thiên cho được hưởng cúng tế ở một ngôi đền để đền công khó nhọc. Mày là một kẻ hàn sĩ, sao dám hỗn láo, tội ác tự mình làm ra, còn trốn đi đằng nào ?

 

Tử Văn bèn tâu trình đầu đuôi như lời Thổ công đã nói, lời rất cứng cỏi, không chịu nhún nhường chút nào. Người đội mũ trụ nói :

 

– Ấy là ở trước vương phủ mà hắn còn ghê gớm như thế, mồm năm miệng mười, đơm đặt bịa tạc. Huống hồ ở một nơi đền miếu quạnh hiu hắn sợ gì mà không dám cho một mỗi lửa.

 

Hai bên cãi cọ nhau mãi vẫn chưa phân phải trái, vì thế Diêm Vương sinh nghị. Tử Văn nói :

 

– Nếu nhà vua không tin lời tôi, xin đem tư giấy đến đền Tản Viên để hỏi; không đúng như thế, tôi xin chịu thêm cái tội nói cần.

 

Bấy giờ người kia mới có vẻ sợ, quỳ xuống tâu rằng:

 

– Gã kia một kẻ học trò, thật là ngu bướng, quả đáng tội lắm. Nhưng đã trách mắng như vậy, cũng đủ răn đe rồi. Xin đại vương khoan dung tha cho hắn để tỏ cái đức rộng rãi. Chẳng cần đòi hỏi dây dưa. Nếu thẳng tay trị tội nó, sợ hại đến cái đức hiếu sinh.

 

Diêm Vương quát lớn rằng :

 

– Cứ như lời hắn thì nhà ngươi đáng tội chết. Điều luật trị tội lừa dối đã sẵn sàng đó. Cớ sao nhà ngươi dám làm sự lập lờ nhận tội như vậy ?

 

Diêm Vương lập tức sai người đến đền Tản Viên để lấy chúng thực. Sai nhân về tâu, nhất nhất đúng với lời Tử Văn. Vương cả giận, bảo các phán quan rằng:

 

– Lũ các ngươi chia toà sở, giữ chức sự, cầm lệnh chí công, làm phép chí công, thưởng thì xứng đáng mà không thiên vị, phạt thì đích xác mà không nghiệt ngã, vậy mà còn có sự dối trá căn bậy như thế ; huống chi về đời nhà Hán, nhà Đường buôn quan bán ngục, thì những mối tệ còn nói sao hết được !

 

Diêm Vương liền sai lấy lồng sắt chụp vào đầu, khẩu gỗ nhét vào miệng, bỏ người ấy vào

 

ngục Cửu Uu.

 

Vương nghĩ Tử Văn có công trừ hại, truyền cho vị thần đền kia, từ nay phần xôi lợn của dân cúng tế, nên chia cho Tử Văn một nửa và sai lính đưa Tử Văn về.

 

Chàng về đến nhà, tẻ ra mình chết đã được hai ngày rồi. Nhân đem những việc đã qua kể cho mọi người nghe, ai cũng kinh hãi và không tin là thực. Sau đó họ đón một bà đồng về phụ bóng, đồng lên cũng nói đúng như lời Tử Văn. Người làng bèn mua gỗ, dụng lại một toà đền mới. Còn ngôi mộ của tên tướng giặc kia thì tự dưng thấy bị bật tung lên, hài cốt tan tành ra như cám vậy.

 

Sau đó một tháng, Tử Văn thấy Thổ công đến bảo :

 

– Lão phu đã trở về miếu, công của nhà thầy không biết lấy gì đền đáp được. Nay thấy ở đền Tản Viên khuyết một chân Phán sự, lão đã vì nhà thầy hết sức tiến cử, được đức Thánh Tản ngài đã bằng lòng, vậy xin lấy việc đó để đền ơn nghĩa. Người ta sống ở đời, xưa nay ai chẳng phải chết, miễn là chết đi còn được tiếng về sau. Nếu trùng trình độ nửa tháng, sợ sẽ về tay người khác mất. Nên cố gắng đi, đừng coi là việc thường.

 

Tử Văn vui vẻ nhận lời, bèn thu xếp việc nhà, rồi không bệnh mà mất.

 

Năm Giáp Ngọ, có người ở thành Đông Quan vốn quen biết với Tử Văn, một buổi sớm đi ra ngoài cửa tây vài dặm, trông thấy trong sương mù có xe ngựa đi đến ầm ầm, lại nghe tiếng quát :

 

– Người đi đường tránh xa, xe quan phán sự !

 

Người ấy ngẩng đầu trông thì thấy, người ngồi trên xe chính là Tử Văn. Song Tử Văn chỉ chắp tay thi lễ chứ không nói một lời nào, rồi thoắt đã cưỡi gió mà biến mất. Đến nay con cháu Tử Văn hãy còn, người ta truyền rằng đó là “nhà quan Phán sự” !

 

Than ôi! Người ta thường nói : “Cứng quá thì gãy”. Kẻ sĩ chỉ lo không cứng cỏi được, còn gãy hay không là việc của trời. Sao lại đoán trước là sẽ gãy mà chịu đổi cứng ra mềm ?

 

Ngô Tử Văn là một chàng áo vải. Vì cứng cỏi mà đám đốt chảy đền tà, chống lại yêu ma, làm một việc hơn cả thần và người. Bởi thế được nổi tiếng và được giữ chức vị ở Minh tỉ, thật là xứng đáng. Vậy kẻ sĩ, không nên kiêng sợ sự cứng cỏi.

 

(- Nguyễn Dữ- Bản dịch của Trúc Khê Ngô Văn Triện, in trong Ngữ Văn 10 Nâng cao, tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, 2020, tr.74-79)

PHÂN TÍCH:

 Trong dòng chảy của văn học trung đại Việt Nam, Nguyễn Dữ là một cây bút đặc biệt. Ông không chỉ kể lại những câu chuyện kỳ lạ về thế giới thần tiên, ma quỷ mà còn mượn cái kỳ ảo để soi chiếu những vấn đề rất thật của cuộc đời: công lí và bất công, thiện và ác, chính nghĩa và gian tà, phẩm giá và sự khuất phục. “Tản Viên phán sự lục” – một trong những truyện đặc sắc của Truyền kỳ mạn lục – là tác phẩm tiêu biểu cho phong cách ấy. Qua hình tượng Ngô Tử Văn, Nguyễn Dữ đã dựng nên một người trí thức mang khí phách cương trực, dám đối đầu với thế lực gian tà ngay cả khi phải bước vào thế giới âm phủ. Đằng sau câu chuyện kỳ ảo là một tư tưởng rất đẹp: con người có thể nhỏ bé trước quyền lực, nhưng không được nhỏ bé trước cái ác; công lí có thể bị che khuất, nhưng không vì thế mà chính nghĩa trở nên vô nghĩa.

 Nguyễn Dữ là nhà văn sống vào khoảng thế kỉ XVI, quê ở Hải Dương, xuất thân trong một gia đình khoa bảng. Ông từng đi thi và làm quan nhưng sau đó lui về ở ẩn, dành tâm huyết cho văn chương. Tác phẩm nổi tiếng nhất của ông là Truyền kỳ mạn lục, một tập truyện viết bằng chữ Hán gồm nhiều câu chuyện mang màu sắc truyền kỳ, kết hợp giữa yếu tố hiện thực và kỳ ảo. “Tản Viên phán sự lục” kể về Ngô Tử Văn – một kẻ sĩ cương trực, vì tức giận trước sự tác oai tác quái của hồn ma một tên tướng giặc nên đã đốt đền. Sau đó, chàng bị bắt xuống Minh ti, đối chất với kẻ gian tà trước Diêm Vương và cuối cùng giành lại công lí. Qua câu chuyện, Nguyễn Dữ vừa ca ngợi bản lĩnh, khí tiết của người trí thức, vừa thể hiện niềm tin sâu sắc vào chính nghĩa và khát vọng về một xã hội công bằng.

 Ngay từ phần mở đầu, Nguyễn Dữ đã giới thiệu Ngô Tử Văn bằng những lời văn ngắn gọn nhưng gần như đã đặt nền móng cho toàn bộ tính cách nhân vật: “Chàng vốn khảng khái, nóng nảy, thấy sự tà gian thì không thể chịu được”. Đây không phải một lời giới thiệu ngoại hình mà là một lời giới thiệu trực tiếp về khí chất. Những từ ngữ “khảng khái”, “nóng nảy”, “không thể chịu được” cho thấy Tử Văn là con người có cá tính mạnh, không thỏa hiệp với điều sai trái. Đặc biệt, câu văn “vùng Bắc người ta vẫn khen là một người cương trực” như một lời chứng nhận của cộng đồng về phẩm chất nhân vật. Tử Văn được đặt trong truyền thống của mẫu hình kẻ sĩ – người có học, có lòng tự trọng, biết phân biệt phải trái và dám bảo vệ điều đúng.

 Chính vì “thấy sự tà gian thì không thể chịu được”, Tử Văn đã có một hành động khiến cả làng kinh hãi: đốt đền. Đây là một hành động dữ dội, quyết liệt và đầy tính thử thách. Ngôi đền vốn được dân gian xem là nơi linh thiêng; đốt đền đồng nghĩa với việc chạm vào một thế lực siêu nhiên mà người bình thường luôn khiếp sợ. Nhưng Tử Văn không hành động bốc đồng. Trước khi đốt đền, chàng “tắm gội sạch sẽ, khấn trời, rồi châm lửa đốt đền”. Trình tự ấy rất đáng chú ý: Tử Văn ý thức rõ việc mình làm và thực hiện nó với một thái độ nghiêm trang như đang thực hiện một hành động có ý nghĩa chính nghĩa.

 Hành động ấy càng trở nên nổi bật khi đặt trong phản ứng của mọi người: “Mọi người đều lắc đầu lè lưỡi, lo sợ thay cho Tử Văn, nhưng chàng vẫn vung tay không cần gì cả.” Một bên là tâm lí đám đông: sợ hãi, dè chừng, cam chịu trước thế lực được xem là thần linh; một bên là Tử Văn: bình thản, quyết đoán, không để nỗi sợ điều khiển hành động. Cái hay của Nguyễn Dữ là ông không biến sự cương trực của nhân vật thành một lời tuyên bố đạo đức khô cứng. Nhà văn cho nhân vật hành động. Và chính hành động ấy đã trở thành lời khẳng định mạnh mẽ nhất về bản lĩnh của Tử Văn.

 Sau khi đốt đền, Tử Văn phải đối diện với hậu quả. Chàng phát bệnh, rồi gặp người tự xưng là Thổ công, nhưng thực chất lại là hồn ma viên tướng giặc phương Bắc. Kẻ gian tà xuất hiện với vẻ ngoài “khôi ngô, cao lớn, đầu đội mũ trụ”, lời lẽ đầy vẻ đạo đức và uy quyền. Hắn không nhận mình là kẻ chiếm đoạt đền mà trái lại còn dùng đạo lí để kết tội Tử Văn: nào là “đức của quỷ thần”, nào là “khinh nhờn”, “huỷ tượng”, “đốt đền”. Đây chính là một thủ pháp rất sâu sắc của Nguyễn Dữ: cái ác không phải lúc nào cũng xuất hiện với bộ mặt dữ tợn; đôi khi nó khoác lên mình vẻ ngoài chính đáng, dùng chính những ngôn từ đạo đức để che giấu bản chất gian tà.

 Trước lời đe dọa của hồn ma, Tử Văn vẫn “mặc kệ, vẫn cứ ngồi ngất ngưởng tự nhiên.” Câu văn tưởng như đơn giản nhưng lại khắc họa rất rõ khí phách nhân vật. Hồn ma dùng quyền lực, lời đe dọa và nỗi sợ về địa phủ để khuất phục chàng; Tử Văn đáp lại bằng sự bình thản. Đó là sự bình thản của một người biết mình đang đứng về phía chính nghĩa. Khi một người không làm điều sai, họ có thể không cần dùng sự hung hăng để chứng minh mình đúng. Sự điềm nhiên của Tử Văn chính là một dạng sức mạnh.

 Đáng chú ý hơn, sau khi hồn ma rời đi, Thổ công thật xuất hiện. Qua lời kể của vị thần này, bộ mặt của kẻ chiếm đền dần được bóc trần: hắn là “viên tướng bại trận của Bắc triều”, một linh hồn ngoại bang đã chết trên đất Việt nhưng vẫn tìm cách chiếm đoạt đền thờ của vị Thổ công bản địa. Hắn “giả mạo họ tên của tôi, quen dùng chước dối lừa”, lại được các đền miếu xung quanh bao che vì “tham của đút”. Chi tiết này khiến câu chuyện siêu nhiên bất ngờ trở thành một tấm gương phản chiếu xã hội con người.

 Thế giới âm phủ trong truyện thực chất mang dáng dấp của một xã hội đang tồn tại: có kẻ gian trá, có người bị áp bức, có những thế lực bao che cho nhau, có sự tham nhũng và cả những trở ngại khiến người ngay khó kêu oan. Khi Thổ công nói “Rễ ác mọc lan, khó lòng lay động”, Nguyễn Dữ dường như đang đặt ra một câu hỏi nhức nhối: nếu cái ác đã ăn sâu vào hệ thống, người lương thiện phải làm gì? Câu trả lời của tác phẩm không phải là im lặng hay nhẫn nhịn. Tử Văn lựa chọn đối đầu.

 Đó cũng là lí do nhân vật không chỉ được xây dựng như một người dũng cảm mà còn là một kẻ sĩ có trách nhiệm với công lí. Chàng hỏi Thổ công: “sao ngài không kiện ở Diêm Vương và tâu lên Thượng đế”. Câu hỏi ấy cho thấy Tử Văn không chấp nhận sự bất lực. Với chàng, nếu cái sai tồn tại thì phải tìm cách vạch trần; nếu công lí bị che khuất thì càng cần có người đứng ra bảo vệ. Chính từ đây, cuộc đấu tranh của Tử Văn vượt khỏi phạm vi chuyện một ngôi đền để trở thành cuộc đấu tranh giữa chính nghĩa và gian tà.

 Cao trào của truyện diễn ra tại Minh ti, nơi Tử Văn bị đưa xuống xét xử. Đây là một thế giới kỳ ảo với thành sắt, sông lớn, cầu dài, quỷ Dạ Xoa, điện Diêm Vương… Những hình ảnh ấy tạo nên không khí rùng rợn, huyền bí, đồng thời đẩy nhân vật vào một hoàn cảnh cực hạn. Ở trần gian, Tử Văn còn có thể chống lại hồn ma; xuống âm phủ, chàng phải đối diện trực tiếp với một hệ thống quyền lực tưởng như tuyệt đối. Thế nhưng ngay cả trong hoàn cảnh ấy, chàng vẫn không cúi đầu.

 Trước lời buộc tội của Diêm Vương, Tử Văn “tâu trình đầu đuôi như lời Thổ công đã nói, lời rất cứng cỏi, không chịu nhún nhường chút nào.” Đây chính là lúc phẩm chất “cương trực” ở đầu truyện được thử thách đến tận cùng. Cái đáng quý ở Tử Văn không phải là chàng không biết sợ, mà là dù đứng trước quyền lực, chàng vẫn không từ bỏ sự thật. Nếu chàng im lặng, chấp nhận lời buộc tội, cái ác sẽ thắng. Nhưng Tử Văn kiên quyết bảo vệ điều mình biết là đúng.

 Đặc biệt, chàng không chỉ phủ nhận lời vu cáo bằng cảm tính mà đưa ra một cách chứng minh rất thuyết phục: “Nếu nhà vua không tin lời tôi, xin đem tư giấy đến đền Tản Viên để hỏi.” Đây là một chi tiết thể hiện trí tuệ của nhân vật. Tử Văn không chỉ có dũng khí mà còn biết dựa vào sự thật và chứng cứ. Chính nghĩa không cần những lời khoa trương; nó cần sự thật có khả năng đứng vững trước mọi cuộc chất vấn.

 Trước sự cứng cỏi ấy, hồn ma bắt đầu lộ vẻ sợ hãi. Ban đầu hắn còn lớn tiếng vu cáo, nhưng khi Tử Văn yêu cầu đối chứng, hắn lập tức chuyển sang xin khoan dung. Sự thay đổi ấy chính là dấu hiệu cho thấy bản chất gian dối đang bị bóc trần. Cái ác thường mạnh khi người khác sợ nó; nhưng khi sự thật được nói ra, vẻ uy quyền giả tạo của nó bắt đầu sụp đổ.

 Chi tiết Diêm Vương sai người đến đền Tản Viên để lấy “chứng thực” là bước ngoặt quan trọng. Sự thật cuối cùng được xác nhận: lời Tử Văn hoàn toàn đúng. Kẻ giả mạo bị trừng phạt, còn Tử Văn được minh oan. Qua đó, Nguyễn Dữ gửi gắm một niềm tin sâu sắc vào công lí: sự thật có thể bị che lấp nhưng không thể bị xóa bỏ; chính nghĩa có thể gặp gian nan nhưng cuối cùng vẫn có khả năng chiến thắng.

 Tuy nhiên, giá trị của đoạn xử án còn nằm ở một tầng nghĩa khác. Khi Diêm Vương nổi giận trước sự dối trá của các thế lực thần linh, ông đã thốt lên một lời phê phán về tình trạng “buôn quan bán ngục”, về những kẻ nắm quyền nhưng không thực hiện được sự công bằng. Như vậy, Nguyễn Dữ đã mượn thế giới âm phủ để nói về chính thế giới trần gian. Cái đáng sợ nhất không phải ma quỷ mà là sự tha hóa của quyền lực, sự cấu kết của những kẻ vụ lợi và tình trạng công lí bị đem ra mua bán. Bởi thế, câu chuyện kỳ ảo càng đọc càng thấy rất thật.

 Sau khi sự thật được sáng tỏ, Tử Văn được trả về trần gian và được giao chức Phán sự đền Tản Viên. Đây là phần thưởng dành cho người có công, nhưng ý nghĩa sâu xa của nó không nằm ở một chức vị. Điều quan trọng hơn là chính nghĩa đã được xác lập. Tử Văn từ một “hàn sĩ” trở thành người thực thi công lí ở cõi thần linh. Chàng không chỉ chiến thắng cái ác một lần mà còn được trao trách nhiệm tiếp tục bảo vệ lẽ phải.

 Lời Thổ công nói với Tử Văn: “Người ta sống ở đời, xưa nay ai chẳng phải chết, miễn là chết đi còn được tiếng về sau” đã nâng câu chuyện lên thành một suy ngẫm mang tính triết lí. Cái chết của con người là điều không thể tránh khỏi; điều quyết định giá trị một đời người là con người đã sống như thế nào và để lại điều gì sau khi chết. Với Tử Văn, sự sống có ý nghĩa không phải vì chàng được hưởng một cuộc đời bình yên, mà vì chàng đã dám đứng về phía chính nghĩa ngay cả khi phải đối diện với hiểm nguy.

 Đặc biệt, đoạn kết khi người quen của Tử Văn nhìn thấy “xe quan phán sự” giữa màn sương tạo nên một dư âm kỳ ảo, vừa huyền bí vừa trang trọng. Tử Văn không còn là chàng áo vải bình thường nữa; chàng đã trở thành một biểu tượng của người kẻ sĩ có khí tiết. Việc “con cháu Tử Văn hãy còn, người ta truyền rằng đó là ‘nhà quan Phán sự’” cho thấy danh tiếng của một con người chính trực có thể vượt qua giới hạn của một đời người. Một con người có thể mất đi, nhưng khí phách mà họ để lại có thể trở thành di sản tinh thần cho những người sau.

 Đặc sắc nhất có lẽ nằm ở phần bình luận trực tiếp của Nguyễn Dữ ở cuối truyện:

“Cứng quá thì gãy. Kẻ sĩ chỉ lo không cứng cỏi được, còn gãy hay không là việc của trời.”

 Câu văn ấy giống như lời tuyên ngôn tư tưởng của toàn bộ tác phẩm. Nguyễn Dữ không phủ nhận rằng người cứng cỏi có thể gặp nguy hiểm. Nhưng ông cho rằng điều đáng lo không phải là “gãy”, mà là không đủ cứng cỏi để bảo vệ điều đúng. Một người có thể chịu thiệt thòi vì chính trực, có thể gặp gian nan vì không chịu cúi đầu, nhưng nếu vì sợ hãi mà biến mình thành mềm yếu, thỏa hiệp với cái ác thì con người đã đánh mất điều quý giá nhất: phẩm giá.

 Câu kết “kẻ sĩ, không nên kiêng sợ sự cứng cỏi” vì thế mang ý nghĩa như một lời nhắn gửi vượt ra ngoài thời đại Nguyễn Dữ. Trong bất cứ xã hội nào, sự tiến bộ đều cần những con người dám nói “không” trước điều sai trái. Công lí không tự nhiên mà có; nó cần được bảo vệ bởi những con người đủ bản lĩnh để đứng lên khi người khác chọn im lặng. Tử Văn vì thế không chỉ là một nhân vật văn học mà còn là hình ảnh lý tưởng của người trí thức có trách nhiệm với cộng đồng.

 Thành công của “Tản Viên phán sự lục” còn được tạo nên bởi nghệ thuật kể chuyện đặc sắc. Nguyễn Dữ đã kết hợp nhuần nhuyễn yếu tố hiện thực và yếu tố kỳ ảo, đưa nhân vật từ làng quê trần thế xuống tận Minh ti rồi lại trở về nhân gian. Thế giới thần linh, ma quỷ được miêu tả sinh động nhưng không nhằm mục đích đơn thuần gây sợ hãi. Ngược lại, nó trở thành một tấm gương phản chiếu hiện thực xã hội. Nghệ thuật xây dựng nhân vật cũng rất sắc nét: Tử Văn được khắc họa chủ yếu qua hành động, lời nói và thái độ; hồn ma tướng giặc hiện lên bằng sự xảo trá, còn Thổ công vừa đáng thương vừa đáng kính. Cách xây dựng tình huống truyện liên tiếp đẩy nhân vật vào thử thách đã khiến phẩm chất của Tử Văn ngày càng sáng rõ.

 Đằng sau câu chuyện về một người đốt đền và xuống âm phủ là một vấn đề lớn lao của văn học: con người phải sống thế nào trước cái ác? Nguyễn Dữ đã đưa ra câu trả lời bằng hình tượng Ngô Tử Văn: hãy giữ lấy sự cương trực, bởi khi con người đánh mất khả năng phân biệt đúng – sai và dũng khí bảo vệ điều đúng, cái ác sẽ có cơ hội lấn át. Nhưng tác phẩm còn đi xa hơn một lời khuyên về lòng dũng cảm. Nó khẳng định rằng phẩm giá của con người được làm nên bởi cách họ lựa chọn trong những thời khắc khó khăn nhất. Khi đứng trước hiểm nguy, người ta mới thực sự biết mình là ai.

 “Tản Viên phán sự lục” vì thế vẫn giữ được sức sống vượt thời gian. Nguyễn Dữ viết về một chàng kẻ sĩ sống cách chúng ta nhiều thế kỉ, nhưng câu hỏi mà tác phẩm đặt ra vẫn còn nguyên giá trị: trước một điều sai trái, ta sẽ chọn im lặng để được bình yên hay lên tiếng để bảo vệ điều đúng? Ngô Tử Văn đã chọn con đường thứ hai. Chàng đốt ngôi đền tà, đối diện với hồn ma, bước xuống Minh ti, đứng trước Diêm Vương và bảo vệ sự thật bằng tất cả khí phách của mình. Đó không chỉ là chiến thắng của một con người trước một con quỷ; đó là chiến thắng của bản lĩnh trước nỗi sợ, của sự thật trước dối trá, của chính nghĩa trước quyền lực tha hóa.

 Có lẽ vì thế mà sau khi câu chuyện khép lại, hình ảnh Ngô Tử Văn vẫn còn đứng đó như một dáng người không chịu cúi đầu. Chàng bước ra từ thế giới truyền kỳ nhưng mang theo một bài học rất thật: đời người có thể ngắn, quyền lực có thể đổi thay, danh lợi có thể tan biến, nhưng khí tiết của một con người biết sống ngay thẳng thì có thể còn mãi. Và như lời Nguyễn Dữ, điều đáng sợ không phải là “cứng quá thì gãy”, mà là vì sợ gãy mà con người tự nguyện biến mình thành mềm yếu trước cái sai. Tử Văn đã không làm thế. Bởi vậy, chàng không chỉ thắng trong câu chuyện của Nguyễn Dữ, mà còn sống mãi như một biểu tượng đẹp của khí phách kẻ sĩ Việt Nam: cương trực, quả cảm, trọng sự thật và không khuất phục trước cường quyền

Khóa học ngữ văn

Xem chi tiết
Xem chi tiết
Xem chi tiết
Xem chi tiết
Xem chi tiết
Xem chi tiết
Xem chi tiết