Học văn Cô Diệu Thu giới thiệu bài phân tích truyện ngắn “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân, một tác phẩm đặc sắc viết về cuộc gặp gỡ đầy nghịch lí giữa người tử tù Huấn Cao và viên quản ngục. Qua hình tượng Huấn Cao tài hoa, khí phách và giàu thiên lương, cùng viên quản ngục biết trân trọng cái đẹp, Nguyễn Tuân đã làm nổi bật sức mạnh của tài năng, nhân cách và cái đẹp. Đặc biệt, cảnh cho chữ giữa chốn ngục tù tối tăm đã trở thành biểu tượng nghệ thuật sâu sắc, nơi ánh sáng của cái đẹp và thiên lương vượt lên trên bóng tối của hoàn cảnh.

VĂN BẢN:
Nhận được phiến trát của Sơn Hưng Tuyên đốc bộ đường, viên quan coi ngục quay lại hỏi thầy thơ lại giúp việc trong đề lao:
– Này, thầy bát, cứ công văn này, thì chúng ta sắp nhận được sáu tên tù án chém. Trong đó, tôi nhận thấy tên người đứng đầu bọn phản nghịch là Huấn Cao. Tôi nghe ngờ ngợ. Huấn Cao? Hay là cái người mà vùng tỉnh Sơn ta vẫn khen cái tài viết chữ rất nhanh và rất đẹp đó không?
Thầy thơ lại xin phép đọc công văn.
– Dạ, bẩm chính y đó. Dạ bẩm có chuyện chỉ vậy?
– Không, tôi nghe tên quen quen và thấy nhiều người nhắc nhỏm đến cái danhđó luôn, thì tôi cũng hỏi thế thôi. Thôi, cho thầy lui. À, nhưng mà thong thả. Thầy bảo ngục tốt nó quét dọn lại cái buồng trong cùng. Có việc dùng đến. Thầy liệu cái buồng giam đó có cầm giữ nổi một tên tù có tiếng là nguy hiểm không? Thầy có nghe thấy người ta đồn Huấn Cao, ngoài cái tài viết chữ tốt, lại còn có tài bẻ khoá và vượt ngục nữa không ?
– Dạ bẩm, thế ra y văn võ đều có tài cả. Chà chà!
– Ờ, cũng gần như vậy. Sao thầy lại chặc lưỡi?
– Tôi thấy những người có tài thế mà đi làm giặc thì đáng buồn lắm. Dạ bẩm, giả thử tôi là đao phủ, phải chém những người như vậy, tôi nghĩ mà thấy tiêng tiếc.
-Chuyện triều đình quốc gia, chúng ta biết gì mà bàn bạc cho thêm lời. Nhỡ ra lại vạ miệng thì khốn. Thôi, thầy lui về mà trông nom việc dưới trại giam. Mai, chúng ta phải dậy sớm để cho có mặt ở cửa trại trước khi lính tỉnh trao tù cho mình lĩnh nhận. Đêm nay, thầy bắt đầu lấy thêm lính canh. Mỗi chòi canh, đều đặt hai lính. Chòi nào bỏ canh, hễ mỗi vọng canh ngủ quên không đánh kiểng đánh mõ, thầy nhỏ biên cho rõ, cho đúng để mai tôi phạt nặng. Chớ có cho mấy thằng thập nó đánh bạc nghe!
Thầy thơ lại rút chiếc hèo hoa ở giá gươm, phe phẩy roi, đi xuống phía trại giam tối om. Nơi góc chiếc án thư cũ đã nhợt màu vàng son, một cây đèn đế leo lét rọi vào một khuôn mặt nghĩ ngợi. Ngục quan băn khoăn ngồi bóp thái dương. Tiếng trống thành phủ gần đấy đã bắt đầu thu không. Trên bốn chòi canh, ngục tốt cũng bắt đầu điểm vào cái quạnh quẽ của trời tối mịt, những tiếng kiểng và mô đều đặn thưa thớt. Lướt qua cái thăm thẳm của nội cỏ đẫm sương, vắng từ một làng xa đưa lại mấy tiếng chó sủa ma. Trong khung cửa sổ có nhiều con song kẻ những nét đen thẳng lên nền trời lốm đốm tinh tú, một ngôi sao Hôm nhấp nhảy như muốn trụt xuống phía chân giới không định. Tiếng dội chó sủa ma, tiếng trống thành phủ, tiếng kiểng mõ canh nổi lên nhiều nhiều. Bấy nhiêu thanh âm phức tạp bay cao lần lên khỏi mặt đất tối, nâng đỡ lấy một ngôi sao chính vị muốn từ biệt vũ trụ.
Nơi góc án thư vàng đã nhợt, son đã mờ, đĩa dầu sở trên cây đèn nến vơi lần mực dầu. Hai ngọn bấc lép bép nổ, rụng tàn đèn xuống tập giấy bản đóng dấu son ti Niết, Viên quan coi ngục ngấc đầu, lấy que hương khêu thêm một con bấc. Ba cái tim bấc được chụm nhau lại, chảy bùng to lên, soi tỏ mặt người ngồi đấy. Người ngồi đấy, đầu đã điểm hoa râm, râu đã ngả màu. Những đường nhăn nheo của một bộ mặt tư lự, bây giờ đã biến mất hẳn. Ở đấy, giờ chỉ còn là mặt nước ao xuân, bằng lặng, kín đáo và êm nhẹ.
Trong hoàn cảnh đề lao, người ta sống bằng tàn nhẫn, bằng lừa lọc, tính cách dịu dàng và lòng biết giá người, biết trọng người ngay của viên quan coi ngục này là một thanh âm trong trẻo chen vào giữa một bản đàn mà nhạc luật đều hỗn loạn xô bồ.
Ông trời nhiều khi chơi ác, đem đày ải những cái thuần khiết vào giữa một đống cặn bã. Và những người có tâm điền tốt và thẳng thắn, lại phải ăn đời ở kiếp với lũ quay quắt.
Ngục quan lấy làm nghĩ ngợi về câu nói ban chiều của thầy thơ lại: “Có lẽ lão bát này, cũng là một người khả đây. Có lẽ hắn cũng như mình, chọn nhầm nghề mất rồi. Một kẻ biết kính mến khí phách, một kẻ biết tiếc, biết trọng người có tài, hẳn không phải là kẻ xấu hay là vô tình. Ta muốn biệt đãi ông Huấn Cao, ta muốn cho ông ta đỡ cực trong những ngày cuối cùng còn lại, nhưng chỉ sợ tên bát phẩm thơ lại này đem cáo giác với quan trên thì khó mà ở yên. Để mai ta dò ý tứ hắn lần nữa xem sao rồi sẽ liệu”.
Sớm hôm sau, lính tỉnh dẫn đến của ngục thất sáu tên tù mà công văn chiều hôm qua đã báo trước cho ngục quan biết rõ tên tuổi, làng xóm và tội hình. Sáu phạm nhân mang chung một chiếc gông dài tám thước. Cái thang dài ấy đặt ngang trên sáu bộ vai gầy. Cái thang gỗ lim nặng, đóng khung lấy sáu cái cổ phiến loạn, nếu đem bắc lên mỏ cân, có thể nặng đến bảy, tám tạ. Thật là một cái gông xứng đáng với tội án sáu người tử tù. Gỗ thân gông đã cũ và mồ hôi cổ, mồ hôi tay kẻ phải đeo nó đã phủ lên một nước quang dầu bóng loáng. Những đoạn gông đã bóng thì loáng như có người đánh lá chuối khô. Những đoạn không bóng thì lại xin lại những chất ghét đen sánh. Trong khi chờ đợi cửa ngục mở rộng. Huấn Cao, đứng đầu gông, quay cổ lại bảo mấy bạn đồng chí :
– Rệp cắn tôi, đỏ cả cổ lên rồi. Phải dỗ gông đi.
Sáu người đều quỳ cả xuống đất, hai tay ôm lấy thành gông đầu cúi cả về phía trước. Một tên lính áp giải đùa một câu :
– Các người chả phải tập nữa. Mai mốt chi đây sẽ có người sành sỏi dẫn các người ra làm trò ở pháp trường. Bấy giờ tha hồ mà tập. Đúng dậy không ông lại phết cho mấy hèo bây giờ.
Huấn Cao, lạnh lùng, chúc mũi gông nặng, khom mình thúc mạnh đầu thang gông xuống thềm đá tảng đánh thuỳnh một cái. Then ngang chiếc gông bị giật mạnh, đập vào cổ năm người sau, làm họ nhăn mặt. Một trận mưa rệp đã làm nền đá xanh nhạt lấm tấm những điểm nâu đen.
Cánh cửa đề lao mở rộng.
Sáu người né mình tiến vào như một bọn thợ nề, thận trọng khiêng cái thang gỗ đặt ngang trên vai.
Trái với phong tục nhận tù mọi ngày, hôm nay viên quan coi ngục nhìn sáu tên tù mới vào với cặp mắt hiền lành. Lòng kiêng nể, tuy cố giữ kín đáo mà cũng đã rõ quá rồi. Khi kiểm điểm phạm nhân, ngục quan lại còn có biệt nhõn đối riêng với Huấn Cao. Bọn lính lấy làm lạ, đều nhắc lại:
– Bẩm thầy, tên ấy chính là thủ xướng. Xin thầy để tâm cho. Hắn ngạo ngược và nguy hiểm nhất trong bọn.
Mấy tên lính, khi nói đến tiếng “để tâm” có ý nhắc viên quan coi ngục còn chờ đợi gì mà không giở những mánh khoe hành hạ thường lệ ra. Ngục quan ung dung:
– Ta biết rồi, việc quan ta đã có phép nước. Các chú chớ nhiều lời.
Bọn lính dãn cả ra, nhìn nhau và không hiểu. Sáu tên tử tù cứ ngạc nhiên về thái độ quản ngục.
Suốt nửa tháng, ở trong buồng tối, ông Huấn Cao vẫn thấy một người thơ lại gầy gò, đem rượu đến cho mình uống trước giờ ăn bữa cơm tù. Mỗi lúc dâng rượu với đồ nhắm, người thơ lại lễ phép nói: “Thầy quản chúng tôi có ít quà mọn này biểu ngài dùng cho ấm bụng. Trong
buồng đây, lạnh lắm”
Ông Huấn Cao vẫn thản nhiên nhận rượu thịt, coi như đó là một việc vẫn làm trong cái hứng sinh bình lúc chưa bị giam cầm. Rồi đến một hôm, quản ngục mở khoá của buồng kín, khép nép hỏi ông Huấn:
– Đối với những người như ngài, phép nước ngặt lắm. Nhưng biết ngài là một người có nghĩa khí, tôi muốn chậm chước ít nhiều. Miễn là ngài giữ kín cho. Sợ đến tại lính tráng họ biết, thì phiền luỵ riêng cho tôi nhiều lắm. Vậy ngài có cần thêm gì nữa xin cho biết. Tôi sẽ cố gắng chu tất.
Ông đã trả lời quản ngục:
– Ngươi hỏi ta muốn gì ? Ta chỉ muốn có một điều. Là nhà ngươi đừng đặt chân vào đây.
Khi nói câu mà ông cố ý làm ra khinh bạch đến điều, ông Huấn đã đợi một trận lôi đình báo thù và những thủ đoạn tàn bạo của quan ngục bị sỉ nhục. Đến cái cảnh chết chém, ông còn chẳng sợ nữa là những trò tiểu nhân thị oai này. Ngục quan đã làm cho ông Huấn bực mình thêm, khi nghe xong câu trả lời, y chỉ lễ phép lui ra với một câu : “Xin lĩnh ý”. Và từ hôm ấy, com rượu lại vẫn đưa đến đều đều và có phần hậu hơn trước nữa ; duy chỉ có y là không để chân vào buồng giam ông Huấn. Ông Huấn càng ngạc nhiên nữa : năm bạn đồng chí của ông cũng đều được biệt đãi như thế cả.
Có nhiều đêm, ngoài việc nghĩ đến chí lớn không thành, ông Huấn Cao còn phải bận tâm nghĩ đến sự tươm tất của quản ngục : “Hay là hắn muốn dò đến những điều bí mật của ta?”. “Không, không phải thế, vì bao nhiêu điều quan trọng, ta đã khai bên ti Niết cả rồi. Ta đã nhận cả. Lời cung ta kí rồi. Còn có gì nữa mà dò cho thêm bận”.
Trong đề lao, ngày đêm của tử tù đợi phút cuối cùng, đúng như lời thơ xưa, vẫn đằng đẳng như nghìn năm ở ngoài. Viên quản ngục không lấy làm oán thù thái độ khinh bạc của ông Huấn. Y cũng thừa hiểu những người chọc trời quấy nước, đến trên đầu người ta, người ta cũng còn chẳng biết có ai nữa, huống chi cái thứ mình chỉ là một kẻ tiểu lại giữ tù. Quản ngục mong mỏi một ngày gần đây ông Huấn sẽ dịu bớt tính nết, thì y sẽ nhờ ông viết, ông viết cho… cho mấy chữ trên chục vuông lụa trắng đã mua sẵn và can lại kia. Thế là y mãn nguyện.
Biết đọc vỡ nghĩa sách thánh hiền, từ những ngày nào, cái sở nguyện của viên quan coi ngục này là có một ngày kia được treo ở nhà riêng mình một đội câu đối do tay ông Huấn Cao viết. Chữ ông Huấn Cao đẹp lắm, vuông lắm. Tính ông vốn khoảnh, trừ chỗ tri kỉ, ông ít chịu cho chữ. Có được chữ ông Huấn mà treo là có một vật báu trên đời. Viên quản ngục khổ tâm nhất là có một ông Huấn Cao trong tay mình, dưới quyền mình mà không biết làm thế nào mà xin được chữ. Không can đảm giáp lại mặt một người cách xa y nhiều quá, y chỉ lo mai mốt đây, ông Huấn bị hành hình mà không kịp xin được mấy chữ, thì ân hận suốt đời mất.
Một buổi chiều lạnh, viên quản ngục tái nhợt người đi sau khi tiếp đọc công văn. Quan Hình bộ Thượng thư trong kinh bắt giải ông Huấn Cao và các bạn đồng chí ông vào kinh. Pháp trường lập ở trong ấy kia. Ngày mai, tinh mơ, sẽ có người đến giải tù đi.
Viên quản ngục vốn đã tin được thầy thơ lại, cho lính gọi lên, kể rõ tâm sự mình. Thầy thơ lại cảm động nghe xong chuyện, nói : “Dạ bẩm, ngài cứ yên tâm, đã có tôi” rồi chạy ngay xuống phía trại giam ông Huấn, đám của buồng giam, hớt hơ hớt hải kể cho tử tù nghe rõ nỗi lòng viên quản ngục, và ngập ngừng bảo luôn cho ông Huấn biết việc về kinh chịu án tử hình.
Ông Huấn Cao lặng nghĩ một lát rồi mỉm cười : “Về bảo với chủ ngươi, tối nay, lúc nào lính canh về trại nghỉ, thì đem lụa, mực, bút và một bó đuốc xuống đây ta cho chữ. Chữ thì quý thực. Ta nhất sinh không vì vàng ngọc hay quyền thế mà ép mình viết câu đối bao giờ. Đời ta cũng mới viết có hai bộ tứ bình và một bức trung đường cho ba người bạn thân của ta thôi. Ta cảm cái tấm lòng biệt nhỡn liên tài” của các người. Nào ta có biết đâu một người như thầy Quản đây mà lại có những sở thích cao quý như vậy. Thiếu chút nữa, ta đã phụ mất một tấm lòng trong thiên hạ”.
Đêm hôm ấy, lúc trại giam tỉnh Sơn chỉ còn vắng có tiếng mõ trên vọng canh, một cảnh tượng xưa nay chưa từng có, đã bày ra trong một buồng tối chật hẹp, ấm ướt, tường đầy mạng nhện, đất bừa bãi phân chuột, phân gián.
Trong một không khí khói toả như đám cháy nhà, ánh sáng đỏ rực của một bộ đuốc tẩm dầu rọi lên ba cái đầu người đang chăm chú trên một tấm lụa bạch còn nguyên vẹn lần hồ. Khói bốc toả cay mắt, làm họ dụi mắt lia lịa.
Một người tù, cổ đeo gông, chân vướng xiềng, đang dậm tô nét chữ trên tấm lụa trắng tinh căng trên mảnh ván. Người tù viết xong một chữ, viên quản ngục lại vội khúm núm cất những đồng tiền kẽm đánh dấu ô chữ đặt trên phiến lụa óng. Và cái thầy thơ lại gầy gò, thì run run bưng chậu mực. Thay bút con, đề xong lạc khoản, ông Huấn Cao thở dài, buồn bã đỡ viên quản ngục đúng thẳng người dậy và đĩnh đạc bảo :
– Ở đây lẫn lộn. Ta khuyên thầy Quản nên thay chốn ở đi. Chỗ này không phải là nơi để treo một bức lụa trắng với những nét chữ vuông tươi tắn nó nói lên những cái hoài bão tung hoành của một đời con người. Thoi mực, thầy mua ở đâu mà tốt và thơm quá. Thầy có thấy mùi thơm ở chậu mực bốc lên không ?… Tôi bảo thực đấy, thầy Quản nên tìm về nhà quê mà ở, thầy hãy thoát khỏi cái nghề này đi đã, rồi hãy nghĩ đến chuyện chơi chữ. Ở đây, khó giữ thiên lương cho lành vững và rồi cũng đến nhem nhuốc mất cái đời lương thiện đi.
Lửa đóm cháy rừng rực, lửa rụng xuống nền đất ẩm phòng giam, tàn lửa tắt nghe xèo xèo.
Ba người nhìn bức châm, rồi lại nhìn nhau.
Ngục quan cảm động, vái người tù một vái, chắp tay nói một câu mà dòng nước mắt rỉ vào kẽ miệng làm cho nghẹn ngào : “Kẻ mê muội này xin bái lĩnh”.
(Tuyển tập Nguyễn Tuân, tập I, NXB Văn học, Hà Nội, 1981)
PHÂN TÍCH:
Văn chương chân chính không chỉ giúp con người nhìn thấy thế giới mà còn khiến con người nhận ra những giá trị đẹp đẽ đang âm thầm tồn tại trong chính thế giới ấy. Giữa một chốn ngục tù vốn được tạo nên bởi bóng tối, bạo lực và sự tàn nhẫn, Nguyễn Tuân lại phát hiện ra một thứ ánh sáng đặc biệt, đó là ánh sáng của cái đẹp, của khí phách và của thiên lương. Chữ người tử tù vì thế không đơn thuần kể về cuộc gặp gỡ giữa một người tử tù và một viên quản ngục, mà còn dựng nên một cuộc gặp gỡ đầy nghịch lí giữa những con người ở hai phía của nhà tù, giữa người bị giam cầm về thân thể và người bị ràng buộc bởi hoàn cảnh sống, để từ đó khẳng định một chân lí giàu sức lay động rằng cái đẹp và nhân cách cao cả có thể vượt lên trên mọi ranh giới của quyền lực, hoàn cảnh và số phận.
Nguyễn Tuân là một trong những cây bút tài hoa và độc đáo nhất của văn học Việt Nam hiện đại. Ông đặc biệt say mê cái đẹp, luôn tìm kiếm những con người có tài năng, có khí phách và có nhân cách khác thường để khám phá. Trước Cách mạng tháng Tám, sáng tác của Nguyễn Tuân thường hướng về một thời vang bóng đã qua, nơi ông nâng niu những vẻ đẹp tài hoa, khí phách và thú chơi tao nhã của con người xưa. Chữ người tử tù là tác phẩm tiêu biểu cho phong cách ấy, được in trong tập Vang bóng một thời. Tác phẩm xây dựng hình tượng Huấn Cao, một con người có tài viết chữ, có khí phách hiên ngang và một thiên lương trong sáng, đồng thời khắc họa viên quản ngục, một con người sống giữa chốn ngục tù nhưng vẫn biết trân trọng cái tài, cái đẹp và nhân cách. Qua đó, Nguyễn Tuân đã làm nổi bật sự gặp gỡ kì lạ giữa những tâm hồn đồng điệu và khẳng định sức mạnh cảm hóa của cái đẹp.
Ngay từ đầu tác phẩm, Nguyễn Tuân đã tạo nên một tình huống truyện đầy kịch tính. Viên quản ngục nhận được công văn báo rằng nhà lao sắp tiếp nhận sáu tên tử tù, trong đó có Huấn Cao, người nổi tiếng với tài viết chữ đẹp và tài bẻ khóa, vượt ngục. Cái tên Huấn Cao lập tức khiến viên quản ngục chú ý. Đối với bộ máy nhà tù, Huấn Cao là một kẻ phản nghịch nguy hiểm, một tử tù đang chờ ngày hành hình. Nhưng trong mắt viên quản ngục, ông lại là một con người tài hoa mà ông từ lâu đã ngưỡng mộ. Chính nghịch lí ấy đã tạo nên nền tảng cho toàn bộ câu chuyện. Một bên là người nắm quyền sinh sát, một bên là người đang chờ cái chết, nhưng về phương diện tinh thần, cán cân lại hoàn toàn đảo ngược. Người tưởng như đang ở vị thế thấp hơn lại sở hữu một nhân cách khiến người khác phải kính phục.
Từ tình huống ấy, vẻ đẹp của viên quản ngục dần được Nguyễn Tuân khắc họa. Giữa chốn đề lao, nơi con người sống bằng tàn nhẫn và lừa lọc, ông lại là một người có tâm hồn dịu dàng, biết kính trọng người tài. Nhà văn gọi phẩm chất ấy là một thanh âm trong trẻo chen vào giữa một bản đàn hỗn loạn, xô bồ. Hình ảnh so sánh giàu sức gợi ấy cho thấy viên quản ngục là một con người đặc biệt. Ông làm việc trong một môi trường có thể khiến nhân cách con người bị tha hóa, nhưng vẫn giữ được sự lương thiện và lòng biết trọng người.
Đằng sau vẻ ngoài của một viên quan coi ngục là một tâm hồn biết hướng đến cái đẹp. Ông không thực sự say mê quyền lực hay những thú vui tầm thường của chốn lao tù. Điều ông mong muốn lại là được sở hữu một bức chữ do chính tay Huấn Cao viết. Ông biết chữ Huấn Cao đẹp, vuông và quý đến mức có được chữ của ông Huấn treo trong nhà là có một vật báu trên đời. Mong ước ấy cho thấy đời sống tinh thần thanh cao của viên quản ngục. Giữa nơi mà con người thường chỉ nghĩ đến việc trừng phạt và giam giữ, ông vẫn âm thầm gìn giữ một niềm say mê đối với cái đẹp.
Nhưng điều đáng quý hơn cả là viên quản ngục không chỉ yêu cái đẹp mà còn biết kính trọng con người tạo ra cái đẹp. Ông muốn biệt đãi Huấn Cao, muốn giúp ông bớt cực nhọc trong những ngày cuối cùng của cuộc đời. Ông không làm điều đó vì lợi ích cá nhân, bởi Huấn Cao là một tử tù không thể đem lại cho ông quyền lực hay tiền bạc. Ông làm vậy vì sự kính trọng đối với tài năng và khí phách. Chính ở đây, Nguyễn Tuân đã đặt ra một vấn đề sâu sắc. Cái đẹp chân chính chỉ thực sự có ý nghĩa khi nó được đón nhận bằng một tâm hồn biết trân trọng.
Đối lập với viên quản ngục là hình tượng Huấn Cao, nhân vật trung tâm làm nên vẻ đẹp đặc biệt của tác phẩm. Trước hết, Huấn Cao là một con người có khí phách hiên ngang. Ngay từ khi bước vào nhà lao, ông đã không hề tỏ ra sợ hãi trước quyền lực. Khi bị lính áp giải thúc giục, ông lạnh lùng hạ chiếc gông nặng xuống thềm đá, tạo nên một âm thanh mạnh mẽ giữa không gian nhà tù. Hành động ấy không đơn thuần là sự phản kháng mà còn thể hiện thái độ coi thường những thứ quyền lực đang cố gắng khuất phục mình.
Đặc biệt, trước sự biệt đãi của viên quản ngục, Huấn Cao vẫn giữ thái độ lạnh lùng và khinh bạc. Khi viên quản ngục đến hỏi ông cần gì, Huấn Cao thẳng thắn nói rằng ông chỉ muốn người quản ngục đừng đặt chân vào buồng giam của mình. Ông không hề biết người đối diện mình là một con người có tấm lòng đặc biệt. Vì vậy, sự lạnh lùng ấy không phải là sự vô ơn hay kiêu ngạo vô cớ, mà xuất phát từ khí phách của một con người không chịu cúi đầu trước quyền lực.
Thế nhưng, Huấn Cao không chỉ là một con người có khí phách. Ông còn là một nghệ sĩ tài hoa. Tài viết chữ của ông được mọi người truyền tụng. Chữ ông đẹp, vuông và trở thành niềm ao ước của viên quản ngục. Điều đáng nói là Huấn Cao không xem tài năng của mình như một món hàng để trao đổi. Ông vốn khoảnh, ít khi cho chữ, và nhất sinh không vì vàng ngọc hay quyền thế mà ép mình viết câu đối. Đối với ông, chữ là một giá trị tinh thần thiêng liêng, chỉ nên dành cho những người thực sự xứng đáng.
Chính vì vậy, việc Huấn Cao đồng ý cho chữ viên quản ngục ở cuối tác phẩm mang một ý nghĩa vô cùng sâu sắc. Khi biết được tấm lòng của viên quản ngục, Huấn Cao đã thay đổi cách nhìn. Ông cảm động trước một tấm lòng biết biệt nhỡn liên tài và thừa nhận rằng mình suýt nữa đã phụ mất một tấm lòng trong thiên hạ. Câu nói ấy cho thấy đằng sau vẻ ngoài lạnh lùng, cứng cỏi là một con người giàu tình cảm, biết trân trọng những tấm lòng chân thành. Huấn Cao có thể không khuất phục trước quyền lực nhưng lại sẵn sàng cúi mình trước cái đẹp của nhân cách.
Vẻ đẹp của Huấn Cao còn được thể hiện rõ nhất trong lời khuyên dành cho viên quản ngục. Ông khuyên người quản ngục nên thay chốn ở, rời khỏi nghề này để giữ cho thiên lương được lành vững. Trong một không gian mà sự tàn nhẫn và lừa lọc có thể làm nhem nhuốc đời người, Huấn Cao nhận ra nguy cơ viên quản ngục đang phải đối mặt. Lời khuyên ấy cho thấy Huấn Cao không chỉ có tài năng và khí phách mà còn có một tấm lòng trong sáng. Ông muốn cái đẹp được sống trong một môi trường xứng đáng, muốn người yêu cái đẹp không bị hoàn cảnh làm tha hóa.
Nếu Huấn Cao là người có tài, có khí phách và thiên lương thì viên quản ngục lại là người biết phát hiện và trân trọng những giá trị ấy. Hai con người tưởng như hoàn toàn đối lập lại gặp nhau ở một điểm chung sâu xa. Đó là tình yêu đối với cái đẹp và sự kính trọng đối với nhân cách. Một người có quyền lực nhưng không dùng quyền lực để áp chế người tài. Một người đang bị giam cầm nhưng không vì thế mà đánh mất sự cao quý của mình. Họ gặp nhau không phải trong tư cách cai ngục và tử tù, mà trong tư cách những con người biết hướng tới cái đẹp.
Chính sự gặp gỡ ấy đã tạo nên cảnh cho chữ, cảnh tượng nổi tiếng và đặc sắc nhất của tác phẩm. Nguyễn Tuân đã gọi đó là một cảnh tượng xưa nay chưa từng có. Một cảnh cho chữ vốn thường phải diễn ra ở nơi thanh sạch, trang trọng, vậy mà ở đây lại diễn ra trong một buồng giam chật hẹp, ẩm ướt, tường đầy mạng nhện, đất bừa bãi phân chuột, phân gián. Không gian ấy là biểu tượng của bóng tối và sự tù túng. Thế nhưng chính trong bóng tối ấy, ánh sáng của cái đẹp lại bừng lên.
Ánh sáng của bó đuốc soi lên tấm lụa trắng, soi lên ba con người đang chăm chú vào từng nét chữ. Một người tù cổ đeo gông, chân vướng xiềng đang viết những nét chữ tài hoa. Một viên quản ngục khúm núm cất những đồng tiền đánh dấu ô chữ. Một thầy thơ lại run run bưng chậu mực. Trật tự thông thường của nhà tù đã bị đảo ngược. Người có quyền lực lại khúm núm trước người tù. Người đang bị giam cầm lại trở thành người làm chủ không gian tinh thần. Người có thân phận thấp nhất trong nhà lao lại là người đang ban phát cái đẹp.
Sự đảo ngược ấy chính là một trong những điểm đặc sắc nhất của Nguyễn Tuân. Nếu xét về địa vị xã hội, viên quản ngục ở vị trí cao hơn Huấn Cao. Nhưng trong thế giới của cái đẹp, Huấn Cao mới là người có vị thế cao nhất. Ông là người sáng tạo, người trao tặng cái đẹp, còn viên quản ngục là người đón nhận và kính phục. Qua cảnh cho chữ, Nguyễn Tuân đã khẳng định rằng quyền lực của tinh thần có thể vượt lên trên quyền lực của chức vị. Một con người có thể bị giam cầm về thân thể nhưng vẫn hoàn toàn tự do về tâm hồn.
Tấm lụa trắng và những nét chữ vuông tươi tắn càng làm nổi bật sự đối lập giữa ánh sáng và bóng tối. Bóng tối của nhà tù đại diện cho sự tàn bạo, hỗn loạn và những thế lực đang muốn khuất phục con người. Ánh sáng của bó đuốc lại tượng trưng cho cái đẹp, cái thiện và thiên lương. Tấm lụa trắng giữa căn phòng đầy mạng nhện như một mảnh trời trong trẻo xuất hiện giữa nơi tưởng như chỉ có sự u tối. Qua đó, Nguyễn Tuân đã gửi gắm một niềm tin đẹp đẽ rằng cái đẹp có thể nảy sinh ngay cả trong hoàn cảnh khắc nghiệt nhất và ánh sáng của nhân cách có thể làm bừng sáng những nơi tưởng như chỉ có bóng tối.
Cảnh cho chữ còn đặc biệt bởi sự thay đổi vị thế giữa các nhân vật. Viên quản ngục, người vốn quen với việc khiến người khác cúi đầu, giờ đây lại vái người tù một vái. Hành động ấy không phải là sự khuất phục trước một tử tù mà là sự cúi đầu của một tâm hồn trước cái đẹp và nhân cách. Câu nói Kẻ mê muội này xin bái lĩnh thể hiện sự thức tỉnh. Viên quản ngục đã hiểu lời khuyên của Huấn Cao và nhận ra điều quan trọng nhất là phải giữ gìn thiên lương của mình.
Như vậy, cảnh cho chữ không chỉ là cảnh một nghệ sĩ viết chữ mà còn là cảnh cái đẹp cảm hóa con người. Huấn Cao trao chữ cho viên quản ngục, nhưng sâu xa hơn, ông trao cho người quản ngục một bài học về cách sống. Viên quản ngục nhận chữ, nhưng đồng thời cũng nhận được sự thức tỉnh về nhân cách. Cái đẹp vì thế không dừng lại ở việc làm cho cuộc sống trở nên đẹp hơn về hình thức. Cái đẹp chân chính còn có khả năng nâng đỡ tâm hồn, hướng con người về phía thiện lương.
Đặc sắc của Chữ người tử tù còn nằm ở nghệ thuật xây dựng nhân vật và tình huống truyện. Nguyễn Tuân đã tạo ra một tình huống đầy nghịch lí khi hai con người ở hai phía đối lập của nhà tù lại tìm thấy sự đồng điệu trong tâm hồn. Nghệ thuật tương phản được sử dụng xuyên suốt tác phẩm, giữa bóng tối và ánh sáng, giữa nhà tù và cái đẹp, giữa quyền lực và khí phách, giữa thân phận tử tù và vị thế tinh thần của người nghệ sĩ. Ngôn ngữ của Nguyễn Tuân vừa cổ kính vừa giàu sức tạo hình, nhiều hình ảnh được lựa chọn công phu, khiến mỗi cảnh vật, mỗi hành động đều mang một vẻ đẹp riêng. Đặc biệt, cảnh cho chữ đã trở thành một biểu tượng nghệ thuật độc đáo, nơi cái đẹp, cái thiện và tài năng cùng hội tụ.
Qua Chữ người tử tù, Nguyễn Tuân còn thể hiện quan niệm nghệ thuật sâu sắc. Cái đẹp chân chính không thể bị khuất phục bởi hoàn cảnh. Tài năng chỉ thực sự có giá trị khi đi cùng nhân cách. Một người có thể thất bại về mặt số phận nhưng vẫn chiến thắng về mặt tinh thần. Huấn Cao cuối cùng vẫn phải bước đến pháp trường, nhưng ông không hề thất bại. Bởi trước khi rời khỏi cuộc đời, ông đã để lại những nét chữ đẹp và một lời khuyên có sức thức tỉnh. Viên quản ngục có thể tiếp tục sống trong cuộc đời ấy, nhưng sau cuộc gặp gỡ với Huấn Cao, ông đã được trao cho một cơ hội để bảo vệ phần trong sáng nhất của mình.
Có thể nói, Chữ người tử tù là một bản hòa ca về cái đẹp giữa bóng tối của nhà tù. Nguyễn Tuân đã khiến người đọc nhận ra rằng hoàn cảnh có thể giam giữ thân thể con người nhưng không thể giam giữ một tâm hồn tự do. Huấn Cao là hiện thân của tài hoa, khí phách và thiên lương. Viên quản ngục là hiện thân của một tâm hồn biết cúi đầu trước cái đẹp. Cuộc gặp gỡ giữa họ trở thành cuộc gặp gỡ giữa những giá trị tinh thần cao quý. Và khi ánh sáng của bó đuốc soi lên tấm lụa trắng giữa căn phòng tối tăm, đó cũng là lúc Nguyễn Tuân khẳng định một chân lí đẹp đẽ, rằng cái đẹp có thể sinh ra từ nơi tăm tối nhất, nhưng khi đã xuất hiện, nó đủ sức làm cho bóng tối phải lùi bước.
Chữ người tử tù vì thế không chỉ khiến người đọc say mê trước tài năng nghệ thuật của Nguyễn Tuân mà còn để lại một bài học sâu sắc về cách con người đối diện với cuộc đời. Giữa những giới hạn của hoàn cảnh, điều đáng quý nhất vẫn là khả năng giữ gìn thiên lương. Giữa một thế giới đầy biến động, con người vẫn có thể tìm thấy nhau bằng sự trân trọng cái đẹp và nhân cách. Huấn Cao đã đi đến cuối con đường đời, nhưng những nét chữ ông để lại vẫn còn đó, như một minh chứng rằng thân phận con người có thể hữu hạn, còn vẻ đẹp của tài năng, khí phách và lòng trong sạch thì có khả năng vượt qua thời gian.
Khóa học ngữ văn
