Học văn Cô Diệu Thu giới thiệu bài phân tích “Truyện kể các vị thần sáng tạo thế giới” do Nguyễn Đổng Chi sưu tầm và biên soạn, tác phẩm đưa người đọc trở về buổi bình minh của nhận thức, khi con người dùng trí tưởng tượng để lý giải những bí ẩn của thiên nhiên và vũ trụ. Qua hình tượng Thần Trụ Trời, Thần Sét và Thần Gió, thế giới thần thoại hiện lên vừa kỳ vĩ, huyền ảo, vừa gần gũi với đời sống. Đằng sau những câu chuyện về thần linh còn là niềm tin vào sức lao động, công lý, tình thương và khát vọng khám phá, kiến tạo thế giới của người Việt xưa.

VĂN BẢN:
1.Thần Trụ Trời
Thuở ấy chưa có vũ trụ, chưa có muôn vật và loài người. Trời đất chỉ là một đám hỗn độn tối tăm và lạnh lẽo. Lúc đó tự nhiên có một ông thần thân thể to lớn không biết bao nhiêu mà kể, chân thần bước một bước cứ như bây giờ là từ tỉnh này qua tỉnh nọ hay là từ đỉnh núi này sang đỉnh núi kia.
Thần ở trong đám mờ mịt hỗn độn đó không biết đã từ bao lâu, đến một hôm bỗng đứng dậy dùng đầu đội trời lên rồi đào đất, đá đắp thành một cái cột vừa to vừa cao để chống trời. Cột càng được thần đắp cao lên chừng nào thì trời tựa như một tấm màn lớn được nâng cao lên chừng ấy. Thần cứ một mình cầy cục đắp, cột đá càng cao chót vót càng đẩy trời lên mãi.
Từ đó trời đất phân ra làm hai. Đất phẳng như cái mâm vuông, trời ở trên như cái bát úp, chỗ giáp giới giữa trời và đất gọi là chân trời.
Khi bầu trời đã cao vừa ý và đã khô cứng rồi, không hiểu sao thần lại phá cột đá đi. Thần ném vung đá và đất đi khắp mọi nơi mọi chỗ. Mỗi hòn đá văng ra bấy giờ thành một ngọn núi hay một hòn đảo. Đất tung tóe mọi nơi thành cồn đồi, thành cao nguyên. Vì thế mà bây giờ mặt đất chỗ cao, chỗ thấp không được bằng phẳng. Chỗ thần đào lên để lấy đất đá đắp cột bây giờ là biển cả.
Cột đó bây giờ không còn. Sau này người hạ giới vẫn cho núi Thạch Môn, là di tích của cột đó; người ta gọi nó là Cột chống trời (Kình thiên trụ) cũng có người gọi là núi Không Lộ (đường lên trời) hay gọi là núi Khổng Lồ.
Không hiểu sau đó rồi vị thần ấy chết hay sống, hay là trở thành Ngọc Hoàng. Việc đó không thấy dân gian kể đến. Nhưng chắc rằng cũng khoảng cách thời gian ấy không lâu có một vị thần có tên là Ngọc Hoàng hay ông Trời cai quản tất cả mọi việc trên trời dưới đất.
Sau thần Trụ Trời phân khai trời đất thì có một số thần khác được phân công hoặc lên trời hoặc xuống đất để tiếp tục công việc kiến thiết ra thế giới. Nào thần làm sao, nào thần đào sông, nào thần tát biển, thần nghiền cát nghiền sỏi, thần trồng cây,…
Vì thế mà trong nhân dân ta có câu hát hiện còn lưu hành:
Nhất ông đếm cát,
Nhì ông tát bể (biển),
Ba ông kể sao,
Bốn ông đào sông,
Năm ông trồng cây,
Sáu ông xây rú,
Bảy ông trụ trời…
Câu hát ấy chỉ là để so sánh tài năng của các thần nhưng cũng cho ta biết một phần nào công việc hồi khai thiên lập địa
- Thần Sét
Trong đám tướng lĩnh của Ngọc Hoàng, trước tiên phải kể thần Sét. Thần Sét có danh hiệu là Thiên Lôi, cũng có khi được gọi là ông Sấm. Thần có mặt mũi rất nanh ác, tiếng quát tháo rất dữ dội. Thần chuyên một việc thi hành luật pháp ở trần gian. Hành động của thần phản ánh sự thịnh nộ của Ngọc Hoàng. Thần có một lưỡi búa đá. Khi xử án kẻ nào dù là người, là vật, là cây cỏ thì thần tự mình nhảy xuống tận nơi trỏ ngọn cờ và đầu tội nhân rồi dùng lưỡi búa bổ xuống đầu. Có khi xong việc, thần không mang lưỡi búa lên theo mà quẳng luôn tại đó. Thần thường ngủ về mùa đông, vào khoảng tháng Hai, tháng Ba mới lại dậy làm việc.
Tính thần Sét rất nóng nảy: hễ Ngọc Hoàng sai là đi ngay, hễ thấy là đánh liền cho nên cũng có lúc làm cho người, vật chết oan. Vì thế mà thần Sét đã có lúc bị Ngọc Hoàng phạt vì đánh lầm giết hại kẻ vô tội. Người ta kể chuyện: có lần thần bị bắt nằm im một nơi không cựa quậy trong một đám rừng ở thiên đình. Con gà thần của Ngọc Hoàng được lệnh thỉnh thoảng lại mổ một cái làm cho thần đau nhói cả người nhưng không biết làm thế nào được. Khi được Ngọc Hoàng tha, thần có thói quen là hễ thấy hoặc nghe tiếng gà là giật mình. Mỗi lần có chớp rạch, biết thần Sét sắp xuống, người hạ giới thường bắt chước tiếng gọi gà để dọa thần có lẽ cũng vì cớ đó.
Thần Sét kể ra thì cực oai, cực dữ, nhưng không ai có thể tưởng tượng được rằng thần bị thua Cường Bạo Đại Vương. Mặc dầu ông Cường Bạo sau rồi cũng bị thần Sét đánh chết nhưng câu chuyện này đã một dạo làm cho cả thiên đình xấu hổ.
- Thần Gió
Thần Gió có một hình dạng kì quặc. Thần không có đầu. Bảo bối của thần là một thứ quạt màu nhiệm. Thần sẽ làm gió nhỏ hay bão lớn, lâu hay mau tùy theo lệnh Ngọc Hoàng. Khi thần Gió phối hợp với thần Mưa, có khi cả thần Sét nữa cũng hoạt động là những lúc đáng sợ nhất. Thỉnh thoảng thần xuống hạ giới đi chơi vào những buổi tối trời. Đó là lúc giữa đồng bằng tự nhiên nổi lên trận gió xoáy, dân gian thường gọi là thần Cụt Đầu.
Thần Gió có một đứa con còn nhỏ hay nghịch ngợm. Người ta kể chuyện: có một hôm thần đi vắng, đứa con ở nhà giở quạt của cha làm gió thổi chơi. Lúc ấy ở hạ giới có một người vì mất mùa đói khổ, tìm không ra cái ăn. Hôm đó, trong nhà lại có vợ đau nặng, ông ta phải cất công đi rất xa hơn một ngày đường mới xin được một bát gạo để nấu cháo cho vợ. Về đến nhà, ông mang gạo xuống ao để vo. Lúc đó trời quang mây tạnh. Đột nhiên trận gió đó do con thần Gió quạt lên tứ tung làm cho bát gạo của người kia đựng trong rá văng xuống ao.
Người nọ khóc lóc thảm thiết, không biết bắt đền ai, căm tức thần Gió vô hạn, quyết tâm kiện lên thiên đình. Ngọc Hoàng nghe rõ câu chuyện mới đòi thần Gió đến quở trách. Thần Gió thú thật là có đứa con ở nhà nghịch bậy. Ngọc Hoàng cho đó là tội không thể tha thứ được, liền đày con thần Gió xuống trần, bắt đi chăn trâu cho người mất gạo kia. Sau đó ít lâu, Ngọc Hoàng lại bắt con thần Gió hóa làm cây ngải để báo tin gió cho thiên hạ. Người hạ giới thường gọi là cây ngải gió hoặc cây ngải tướng quân. Mỗi lần cây ngải gió cuốn bông cuốn lá lại, người hạ giới biết là trời sắp nổi gió, nổi mưa. Lại mỗi lần trâu bị cảm gió, người ta thường lấy lá cây ngải để chữa, vì cho rằng nó có kinh nghiệm về bệnh của trâu trong thời gian giữ trâu cho người mất gạo
(theo Nguyễn Đổng Chi – Tác phẩm được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh, Sđd, tr.93- 94)
PHÂN TÍCH:
Từ thuở con người còn đứng trước bầu trời bao la với biết bao điều chưa thể cắt nghĩa, trí tưởng tượng đã trở thành chiếc chìa khóa đầu tiên mở cánh cửa nhận thức về thế giới. Trước khi khoa học ra đời, mỗi ngọn núi, dòng sông, cơn gió hay tiếng sấm đều được lý giải bằng những câu chuyện kỳ vĩ về các đấng thần linh mang sức mạnh siêu nhiên. Bởi vậy, thần thoại không chỉ là những huyền thoại cổ xưa mà còn là “ký ức tuổi thơ” của nhân loại, lưu giữ cách con người nguyên thủy nhìn nhận và khám phá vũ trụ. Trong kho tàng thần thoại Việt Nam, “Truyện kể các vị thần sáng tạo thế giới” do Nguyễn Đổng Chi sưu tầm và biên soạn là một văn bản tiêu biểu. Qua hình tượng Thần Trụ Trời, Thần Sét và Thần Gió, tác phẩm đã tái hiện bức tranh khai thiên lập địa giàu màu sắc kỳ ảo, đồng thời phản ánh khát vọng lý giải thiên nhiên, tôn vinh sức sáng tạo và gửi gắm những quan niệm nhân văn của người Việt cổ về thế giới và con người.
Trước hết, sức hấp dẫn của tác phẩm nằm ở việc xây dựng một thế giới thần linh vừa hùng vĩ vừa gần gũi. Mỗi vị thần đều đảm nhận một chức năng riêng trong quá trình kiến tạo và vận hành vũ trụ. Không gian nghệ thuật mở ra từ buổi “hỗn độn tối tăm và lạnh lẽo”, khi chưa có trời, chưa có đất, chưa có con người. Đây là mô típ quen thuộc của thần thoại nhiều dân tộc, song cách người Việt lý giải lại mang dấu ấn rất riêng: thế giới không được tạo nên bằng phép màu hay lời phán truyền, mà bằng chính lao động của thần linh. Điều ấy cho thấy tư duy của cư dân nông nghiệp luôn đề cao sức lao động như nguồn gốc của mọi sự sáng tạo.
Trong toàn bộ hệ thống truyện, Thần Trụ Trời hiện lên như vị thần khai mở vũ trụ. Hình tượng thần được xây dựng bằng nghệ thuật phóng đại đặc trưng của thần thoại: thân thể “to lớn không biết bao nhiêu mà kể”, mỗi bước chân vượt qua cả khoảng cách giữa các tỉnh hay các dãy núi. Kích thước phi thường ấy không nhằm gây ấn tượng đơn thuần mà thể hiện quan niệm của người xưa: chỉ sức mạnh siêu nhiên mới đủ khả năng kiến tạo nên thế giới rộng lớn.
Hành động của thần mang tầm vóc sử thi. Thần “đội trời”, “đào đất”, “đắp cột đá”, từng chút một nâng bầu trời lên cao. Chuỗi động từ mạnh liên tiếp đã biến công cuộc sáng tạo thành một quá trình lao động bền bỉ. Trời và đất không tự nhiên mà có; chúng được hình thành bằng mồ hôi, sức lực và ý chí của vị thần khổng lồ. Sau khi hoàn thành sứ mệnh, thần phá cột đá, đất đá văng đi khắp nơi tạo thành núi non, hải đảo, cao nguyên; chỗ đào đất hóa thành biển cả. Chỉ bằng vài chi tiết giàu tưởng tượng, người Việt cổ đã giải thích được nguồn gốc địa hình đa dạng của đất nước.
Đằng sau những chi tiết kỳ ảo ấy là một tư duy chất phác nhưng đầy sáng tạo. Người xưa chưa có khoa học để lý giải sự hình thành của vũ trụ nên đã dùng trí tưởng tượng để kết nối mọi hiện tượng thiên nhiên thành một câu chuyện logic. Điều đáng quý là trong trí tưởng tượng ấy luôn thấp thoáng hình bóng của con người lao động. Vị thần sáng tạo thế giới cũng làm việc như một người thợ khổng lồ: đào đất, đắp đá, dựng cột. Điều đó cho thấy người Việt cổ đã gửi gắm vào thần linh chính lý tưởng về sức lao động sáng tạo.
Nếu Thần Trụ Trời đại diện cho công cuộc sáng thế thì Thần Sét lại biểu trưng cho quyền lực duy trì trật tự của vũ trụ. Tiếng sấm, tia chớp vốn là những hiện tượng khiến con người nguyên thủy vừa kinh sợ vừa tò mò. Trong trí tưởng tượng dân gian, tất cả được nhân hóa thành một vị thần mặt mũi dữ tợn, cầm búa đá, chuyên thi hành luật pháp của Ngọc Hoàng.
Điều thú vị là Thần Sét không phải vị thần hoàn hảo tuyệt đối. Thần nóng nảy, đôi khi xử phạt oan người vô tội và cũng phải chịu hình phạt vì sai lầm của mình. Chi tiết ấy cho thấy quan niệm rất nhân văn của dân gian: ngay cả thần linh cũng phải chịu trách nhiệm trước công lý. Không có quyền lực nào đứng trên lẽ phải. Chính vì vậy, thế giới thần thoại Việt Nam không tạo nên khoảng cách quá xa giữa thần và người mà khiến thần linh cũng mang những tính cách rất đời thường: nóng nảy, mắc lỗi và biết sửa sai.
Qua hình tượng Thần Sét, người Việt cổ không chỉ giải thích hiện tượng sấm chớp mà còn gửi gắm niềm tin rằng công lý luôn tồn tại trong vũ trụ. Thiện và ác đều sẽ nhận lấy kết cục tương xứng, ngay cả những người thực thi công lý nếu sai cũng phải chịu trách nhiệm.
Khác với vẻ uy nghi của Thần Trụ Trời hay sự dữ dội của Thần Sét, Thần Gió lại được khắc họa vừa kỳ lạ vừa gần gũi. Thần không có đầu, sử dụng chiếc quạt thần để điều khiển gió theo lệnh Ngọc Hoàng. Chỉ bằng hình tượng ấy, người xưa đã giải thích nguồn gốc của những cơn gió lớn, gió nhỏ hay bão tố.
Đặc sắc hơn cả là câu chuyện về đứa con nghịch ngợm của Thần Gió. Chỉ một lần vô ý quạt gió cũng khiến bát gạo quý giá của người nghèo bị cuốn xuống ao. Chi tiết ấy phản ánh sự thấu hiểu sâu sắc của dân gian đối với cuộc sống lam lũ của người lao động. Một bát gạo không chỉ là thức ăn mà còn là hy vọng, là mạng sống của cả một gia đình trong những ngày đói khổ.
Cách Ngọc Hoàng xử phạt con Thần Gió càng làm nổi bật tinh thần công bằng và nhân ái của thần thoại Việt Nam. Đứa trẻ phải xuống trần chăn trâu để chuộc lỗi, sau đó hóa thành cây ngải báo gió giúp ích cho con người. Hình phạt không nhằm hủy diệt mà hướng đến giáo dục, bù đắp và sửa chữa. Đó là một quan niệm rất tiến bộ: sai lầm cần được khắc phục bằng những việc làm có ích.
Thành công lớn của tác phẩm nằm ở nghệ thuật xây dựng thế giới thần thoại giàu chất kỳ ảo. Những hình tượng khổng lồ, những phép màu, những sự biến hóa kỳ lạ đã mở ra một không gian huyền diệu, nơi mọi điều đều có thể xảy ra. Tuy nhiên, càng kỳ ảo bao nhiêu thì tác phẩm càng phản chiếu chân thực tư duy của con người nguyên thủy bấy nhiêu.
Ngôn ngữ kể chuyện mộc mạc, tự nhiên, giàu màu sắc truyền miệng. Các chi tiết đều mang tính biểu tượng cao nhưng vẫn gần gũi với đời sống của cư dân nông nghiệp. Những hiện tượng thiên nhiên như núi non, biển cả, gió bão, sấm chớp đều được giải thích bằng những câu chuyện sinh động, giúp con người xưa cảm thấy thế giới trở nên dễ hiểu và gần gũi hơn.
Đặc biệt, tác phẩm còn thể hiện sự kết hợp hài hòa giữa trí tưởng tượng và kinh nghiệm sống. Đó là lý do thần thoại tuy không phản ánh hiện thực theo nghĩa khoa học nhưng lại phản ánh rất chân thực trình độ nhận thức, tâm hồn và khát vọng của cộng đồng người Việt cổ.
“Truyện kể các vị thần sáng tạo thế giới” không đơn thuần kể về nguồn gốc của vũ trụ. Điều mà tác phẩm muốn lưu giữ chính là hành trình con người đi tìm lời giải cho những bí ẩn của thiên nhiên. Trong buổi bình minh của lịch sử, khi khoa học chưa xuất hiện, trí tưởng tượng đã trở thành cây cầu nối con người với thế giới.
Đồng thời, tác phẩm còn phản ánh những quan niệm đạo đức bền vững của dân tộc: đề cao lao động sáng tạo, tôn trọng công lý, yêu thương con người, hướng thiện và tin rằng mọi sai lầm đều phải được sửa chữa bằng trách nhiệm. Những giá trị ấy vẫn còn nguyên ý nghĩa đối với cuộc sống hôm nay.
Văn học dân gian luôn bắt đầu từ những câu hỏi rất hồn nhiên: Vì sao có trời? Vì sao có núi? Vì sao có gió? Vì sao có sấm? Nhưng chính từ những câu hỏi giản dị ấy đã nảy sinh cả một thế giới nghệ thuật giàu sức sống. “Truyện kể các vị thần sáng tạo thế giới” vì thế không chỉ là bản ghi chép những huyền thoại cổ xưa mà còn là minh chứng cho trí tuệ, óc sáng tạo và tâm hồn phong phú của người Việt. Đọc tác phẩm hôm nay, ta không tìm kiếm lời giải khoa học về sự hình thành vũ trụ, mà tìm thấy vẻ đẹp của một dân tộc đã dùng trí tưởng tượng để thắp sáng buổi bình minh của nhận thức, gửi gắm vào mỗi vị thần niềm tin rằng con người luôn có khát vọng khám phá, kiến tạo và làm cho thế giới ngày một tốt đẹp hơn.
Khóa học ngữ văn
