Chiến tranh khép lại trên trang sử, nhưng dư âm của nó vẫn âm thầm ở lại trong số phận con người. “Người ở bến sông Châu” của Sương Nguyệt Minh không kể về những trận đánh dữ dội hay chiến công lẫy lừng, mà lặng lẽ đi vào nỗi đau hậu chiến qua hình ảnh dì Mây – người phụ nữ mang thương tích trở về giữa ngày người cũ thành hôn. Giữa dòng sông vẫn chảy qua bao mùa hoa gạo đỏ, dì Mây hiện lên như một dấu lặng buồn mà đẹp, nơi lòng vị tha, sự hi sinh và khát vọng yêu thương vẫn âm thầm tỏa sáng sau tất cả mất mát của đời người.
1.Ngày dì Mây khoác ba lô về làng, chú San đi lấy vợ.
Hôm ấy, nước sông Châu đỏ quạch. Sóng lớp lớp đập tung vào trụ cầu đổ đứng trơ trọi giữa dòng nước từ thời bom Mỹ thả. Hoàng hôn màu đỏ ối. Mây đen trắng lẫn lộn bay cuồn cuộn. Nước sông Châu mỗi lúc một lên cao, chảy xiết. Đám rước dâu ngồi trên đò bảo nhau: Lũ mạn ngược đổ về…
Chú San lấy cô Thanh giáo viên ở xóm Bãi bên kia sông. Đám rước đông, Mai phải phụ với ông chèo đò chở mấy chuyến mới hết. Chú San đi học nghề ở nước ngoài về mấy tháng nay, chưa xin được việc. Chú mặc áo sơ vin, thắt ca ra vát, đứng ngay ở mũi đò. Các cô mặc áo cổ lá sen: các bà, các ông mặc áo nâu sồng ngồi ở khoang đò, miệng nhai trầu bỏm bẻm. Mặt chú San tươi, rạng rỡ, lúc nào cũng cười cười, răng trắng lấp loá.
Đám rước dâu qua sông một lúc thì dì Mây về. Dì đeo chiếc ba lô bạc màu toòng teng ở một bên vai. Dì đứng ở bờ đê xóm Bãi gọi ông. Giọng dì nghèn nghẹn lẫn trong ráng chiều lúc hiện lên rất rõ, lúc nhoè đi. Ông đứng ở cửa lều cỏ dỏng tai nghe. Trong tiếng gió và sóng, Mai cảm nhận tiếng vọng của một thời xa lắc và loáng thoáng cả tiếng bọn trẻ chăn trâu: “Cô… ô… ơi. Lỡ đò rồi.”.
Mai cứ ngỡ mình trong mơ. Khi bừng tỉnh, Mai đã thấy ông chèo đò ra giữa dòng sông. Dì Mây bước tập tễnh, tập tễnh xuống bến. Ông quẫy chèo gấp gáp. Mắt ông nhoè đi. Đò kịch bến. Dì Mây nhào xuống đò. Đò ngang tròng trành, tròng trành. Ông ôm lấy dì. Đôi vai rung lên. Ông nói từng hơi đứt quãng: “Mây ơi! Sao đến hôm nay mới về… Chậm mất rồi! Con ơi!… Cha cứ tưởng…”.
Chập tối.
Gió ở bến sông Châu thổi quằn quặn. Sau túp lều cỏ, tàu lá chuối rung lật bật. Nước sông Châu chảy xa xá, vài con két đi ăn về muộn thỉnh thoảng kêu lạc loài giữa không trung. Mai rốn lại neo chặt đò. Ông đi trước, dì Mây tập tễnh theo sau về xóm Trại. […]
Cỗ cưới vẫn chưa tàn. Người ra, vào tấp nập, cười nói, chúc tụng vang một góc làng. Cô Thanh mặc quần láng Nam Định, áo pô pơ lin trắng loá đi từng bàn tiếp thức ăn. [….] Hàng xóm vẫn chưa biết dì Mây về. Cả nhà nói chuyện chủng chẳng. Ông hỏi bâng quơ những chuyện xưa xa lắc. Bố an ủi dì Mây cao số. Chuyện trò chẳng biết vui hay buồn. Mẹ đụng phải cái gì cũng rơi, cũng vỡ. Tim Mai đập thon thót. Thỉnh thoảng bố hỏi, dì Mây miễn cưỡng trả lời, bụng dạ cứ để ở bên nhà chú San. […]
Bên nhà chú San có tiếng quát tắt nhạc. Thím Ba hổn hển đến ghé sát tai chú San thì thầm. Hình như chưa hết câu, chú đã ngồi phịch xuống ghế ôm đầu. Tiếng ồn ào lắng lại chỉ còn tiếng thu dọn bát đĩa kêu lách cách.
Một lát sau, chú San rẽ hàng râm bụt, bổ sang. Người chú quấn đầy dây tơ hồng. Bố ngồi bó gối quay mặt đi nơi khác. Mẹ ngại ngùng chào đãi bôi. Ông tra thuốc vào nõ điếu, rít liên tục. Chú San nhận lỗi, xin phép được nói chuyện với dì. Dì Mây nuốt nước mắt vào trong: “Bây giờ không còn gì để nói nữa. Anh về đi!”. Dì chống nạng gỗ, lộc cộc bỏ ra ngoài ngõ. Chú San đứng phắt dậy đi theo: “Cho anh nói một câu”. “Không!”. “Anh chỉ xin nói một câu thôi.”. Dì Mây thở hổn hển, tay vin cành dựa hẳn vào cây bưởi. “Anh có lỗi. Anh tệ quá. Mây cứ chửi mắng anh đi.”. Chú San nắm hai tay đập liên hồi vào thân cây. Lá bưởi xào xạc. Vài con chim giật mình bay vút lên không trung. Dì Mây tức tưởi: “Hôm nay là ngày gì? Anh nhớ không? Có ngờ đâu ngày ấy tiễn anh đi cũng là ngày li biệt.”.
Họ lặng im, không ai nói gì nữa. Trong mắt hai người không phải màn đêm dưới tán lá bưởi thoang thoảng mùi hương thuần khiết mà là bến sông. Bến sông Châu năm ấy giữa mùa hoa gạo cháy. Từng cánh, từng cánh hoa đỏ tươi rắc đầy lối xuống đò. Phía ga Ghềnh xa xa ì ùng tiếng bom Mỹ thả. Đạn cao xạ lụp bụp nổ. Từng đám khói tròn đen trắng lẩn vẩn trên nền trời xanh ngắt. Nhịp cầu bị bom đánh sập trơ ở bến sông. Người con gái chèo đò đưa người con trai đi nước ngoài học. Đò ngang bồng bềnh, bồng bềnh. Bỗng máy bay rẹt qua đầu. Người con gái bỏ chèo ôm chặt, nép đầu vào ngực người yêu. Con đò cứ trôi đi, chở hai người lặng im ôm nhau như không hề có chiến tranh, không có cuộc chia li.
Mai ra múc nước, gầu va vào thành giếng. Hai người bừng tỉnh. Giọng chú San bồi hồi: “Ở nước ngoài, đêm nào anh cũng nhớ đến em, nhớ bến sông Châu.”. Tiếng dì Mây da diết: “Ngày ở Trường Sơn, trang nhật kí nào em cũng viết tên anh.”. Hồi ức trở về những ngày xa nhau. Một thời đã qua ở hai khung trời xa cách lại hiện lên. Người con gái ở Trường Sơn đạn nổ bom rơi, người con trai ở xứ bạn đầy hoa tuyết trắng rơi rơi, êm ả, thanh bình… Tình yêu, nỗi nhớ như kéo không gian, thời gian gần lại. Trong lòng họ, tình yêu, tình thương lại bùng lên bất chợt, cồn cào, da diết. Chú San đột nhiên vung tay đấm rung cành bưởi: “Mây! Chúng ta sẽ làm lại.”. “San! Anh nói gì thế?”. “Anh sẽ từ bỏ tất cả. Chúng ta về sống với nhau.”. Dì Mây lặng đi, người rũ ra, mềm oặt. Dì từ từ khuỵu xuống. Chú San sẽ sàng đỡ dì ngồi xuống đống củi xếp cạnh gốc cây bưởi.
Bên kia hàng râm bụt, cô Thanh đi đi lại lại. Chốc chốc, cô lại dứt lá râm bụt xoàn xoạt. Dây tơ hồng quấn quýt ở tay cô. Trong buồng hạnh phúc, giường cưới bỏ ngỏ, màn trắng thấp thoáng qua cửa sổ. “Chết thật!” – Mai buột miệng thốt lên. Tình thế này chẳng biết chuyện gì sẽ xảy ra. Trên đầu không thấy gió thổi, mây bay. Cây trong vườn đứng im phăng phắc. Không khí ngột ngạt nghẹt thở. Đó đây im ắng hãi hùng như đang dồn nén cho một trận cuồng phong bão tố sắp cuộn lên ở bến sông Châu.
“Không!”. Tiếng dì Mây phá vỡ khoảng không gian im lặng. Dì bật dậy, chống nạng gỗ cộc cộc đi vào sân. Chú San chạy theo níu áo dì Mây. Dì đứng lại, thở hổn hển: “Thôi! Thôi! Lỡ rồi! Đằng nào cũng chỉ một người đàn bà khổ. Anh về đi!”. Chú San ngập ngừng định nói điều gì. Dì Mây ngăn lại: “Anh đừng lo cho tôi.”. Dì thở dài đánh thượt: “Sự thể đã thế, cố mà sống với nhau cho vuông tròn.”. Cô Thanh đứng bên kia hàng râm bụt mếu máo nói với sang: “Chị ơi! Chúng em ơn chị.”.
Đêm dài quá.
Chuột trên mái nhà đuổi nhau kêu chí choé. Có tiếng ken két như thân tre vặn mình sát vào nhau. Lại có tiếng cọt kẹt như tiếng dát giường kêu vọng trong đêm sâu vắng. Thở dài. Chốc chốc lại thở dài, dì Mây dựa lưng vào vách, một chân lành còn lại bó gối. Dì ngồi rất lâu trước ngọn đèn dầu tù mù. [… | Dì ngồi như tượng.
2. Sáng.
Tin dì Mây về loang đi khắp xóm Trại. Dì Mây ngượng ngùng tiếp khách. Người đưa đẩy, an ủi, kẻ cảm thông, xót xa. Nửa buổi, vãn khách, dì Mây lại khoác ba lô ra lều cỏ. Dì ngồi trên bờ đê cao, ngẩn ngơ nhìn hoa gạo đỏ rắc đầy bến sông Châu. Mai se sẽ ngồi bên: “Dì ơi! Dì về được nhà là mừng lắm. Người còn là quý nhất, dì ơi.”. Dì Mây mơ màng như không nghe Mai nói. Dì khe khẽ, thì thầm: “Ngày xưa, dì và chú San thường ngồi ở bến sông này…”. Lặng đi một lát, lại nói tiếp trong hơi thở: “Dì chèo đò đưa chú đi học cũng vào mùa hoa gạo…”. Dì thở dài, nuối tiếc. Đôi mắt nhìn xa xăm. […]
Chiều chiều.
Mẹ hái lá bưởi mang ra bến sông Châu. Mẹ và dì gội đầu cho nhau. Tóc dì Mây rụng nhiều, xơ và thưa. Ngày chưa đi bộ đội, dì thường sai Mai lấy ghế đẩu cho dì đứng lên chải tóc. Tóc dì đen óng mượt. Những lúc gội đầu xong, dì nắm sát chân tóc quay mù mịt. Bao nhiêu hạt nước li ti bắn ra rơi cả vào mặt Mai. Chú San nấp bên hàng râm bụt, vạch lá nhìn trộm cũng giật mình. Mùa hoa loa kèn, dì Mây rủ Mai ra triền sông chơi. Hai dì cháu đuổi nhau. Chạy ngược chiều gió thổi, tóc dì xổ tung bay bồng bênh, bồng bềnh như mây. Mai thầm ước khi thành thiếu nữ có mái tóc mây dài đẹp như dì. Mẹ và dì Mây nặng tình quá. Hai chị em rủ rỉ rù rì chuyện trò. Mai chẳng rõ, chỉ thấy chốc chốc mẹ thở dài. Lúc về, mẹ dặn: “Mai. Chịu khó học hành rồi đỡ dần ông cho dì vui. Đừng có nhảy cẫng đi chơi, bỏ dì ngồi một mình.”. Mẹ lại bảo: “Dì ra đây là phải. Ở nhà nhìn sang bên kia hàng râm bụt thấy người ta như đôi chim cu, đến tôi cũng nẫu ruột”. Mai lờ mờ hiệu được câu: “Chị em gái như trái cau non.”.
Từ ngày ra bến sông Châu, dì Mây buồn lắm, cứ tha thẩn đi ra đi vào, lúc tư lự ngồi ngắm trời nhìn nước, lúc lụi cụi nấu cơm. Vắng Mai, chỉ còn ông và dì, hai bố con chòi chọi, ăn được bữa cơm đến khốn khổ. Ông thương dì, cố nhai, cố nuốt, mắt ngân ngấn nước. Dì cũng não lòng, có hôm bỏ bữa. Ban ngày đi lại còn khuây khoả. Ban đêm, nghe tiếng trẻ sơ sinh khóc bên trạm xá xã vọng sang, dì Mây lại giật mình thon thót.
Dì Mây thỉnh thoảng cũng phụ với ông chèo đò. Dì bỏ chân giả, chống nạng gỗ, khó nhọc leo lên sạp thuyền ngồi, hai tay cầm chèo quẫy nước. Lũ bạn Mai đi học cấp ba trường huyện, chẳng bao giờ dì lấy tiền đò. Đi nhờ mãi cũng ngại, bọn nó bảo: “Chúng cháu sức dài vai rộng, dì giúp mãi, ngại quá!”. Dì Mây cười: “Đáng là bao, cho chúng mày nợ đến nữa có lương rồi trả.”. Bọn nó nhao nhao: “Ứ trả đâu. Chúng cháu dồn lại, dì lấy chồng đi mừng luôn thể.”. Dì Mây chợt thoáng buồn. Chúng nó kín đáo nhìn nhau, nói lảng sang chuyện khác. Thương dì, mỗi lần qua chúng nó bỏ vào lều có khi thì hoa quả, lúc lại bánh trái. Có đứa còn ngắt cành hoa loa kèn to cắm ở đầu chõng tre dì nằm nữa. Lũ bạn Mai như một đàn chim sẻ chợt ùa đến, thoắt bay đi, làm cho bến sông Châu lúc ồn ào náo động, lúc lại im ắng, buồn tẻ.
Về một thời gian, tóc dì Mây mọc thêm, da dẻ hồng hào trở lại. Đêm trăng sáng. Dì Mây cuộn tóc cao trên gáy rủ Mai xuống bến sông tắm. Nước sông Châu chảy êm đềm mát rượi. Vai dì Mây để trần. Trăng sáng lắp loá trên ngực dì căng đầy. Cổ dì Mây trắng ngần, mắt dì sáng lên, lung linh, huyền hoặc. Thảo nào mẹ thường nói: “Ngày xưa dì đẹp nhất làng.”. Mẹ cũng bảo: “Có khối trai làng ra bến sông ngó trộm dì mày tắm.”. Mai chột dạ ngước lên, chỉ thấy triền đê cao ngút. Bờ bên kia lắp loá ánh lửa hàn. Họ đang sắp bắc cầu. Mai bơi lại gần: “Dì ơi! Dì còn trẻ lắm.”. “Nỡm ạ. Dì sắp thành bà cô rồi đấy. Còn mày nữa. Tao cứ ngày một già đi, mày lại cứ phổng phao ra.”. Dì Mây quẫy mình, một chân còn lại quấy nước, hai tay sải mạnh, người lấp loá trên sông đầy ánh bạc. Sóng nước lao xao.
3. Làng xây trạm xá mới. Bà y sĩ trưởng trạm không sống nổi với nghề, bỏ việc. Thiếu người, bàn ghế, giường tủ để trơ trỏng. Biết dì là quân y sĩ Trường Sơn, ông Chủ tịch xã nói khó với dì ra giúp. Dì Mây trở lại nghề. Khổ nhất là những đêm trời mưa, người ta gọi dì Mây đến khám tại nhà. Đường quê khấp khểnh sống trâu, dì bước đầy bước hụt. Con đường từ bến sông đến trạm xá có vài trăm mét, dì cậm cạch bước, lưng thấm đẫm mồ hôi. Ông Chủ tịch xã bảo: “Tập xe đạp đi, tôi cho người sửa đường rải đá mạt.”. Dì Mây bảo: “Trạm xá còn thiếu thuốc. Tôi cố, cũng như người tập thể dục.”. Mấy tháng rồi, lúc trời mưa, con đường đầy dấu chân tròn in vào đất phù sa.
Đêm mưa.
Vợ chú San vượt cạn thiếu tháng. Thai ngôi ngược lại tràng hoa quấn cổ. Thím Ba loay hoay đỡ mãi, cô Thanh không đẻ được. Cô cứ luôn mồm kêu: “Chị Ba ơi… Em chết mất… Em đau quá!…”. Cô Thanh đuối dần, không còn sức rặn, một hai phần sống, tám chín phần chết. Đường lên huyện xa lắc. Đò ngang cách trở. Mưa gió dầm dề. Người ướt lướt thướt, chú San mặt cắt không còn một hạt máu. Dì Mây khoác áo mưa đến. Chú San đang dở khóc dở mếu. Thím Ba lại vướng thằng Cún. Nó khóc ngằn ngặt, không rời thím nửa bước. Thím bực mình đét vào đít nó một cái: “Con với cái. Rõ khổ.”. Thím Ba kéo dì Mây ra ngoài hiên, rỉ tai: “Đưa lên huyện không kịp mà động dao kéo vào cũng không cứu nổi. Nhà nó, chồng lêu bêu chưa xin được việc. Ba cái đồng bạc đi nước ngoài về ăn hết rồi tiền đâu thuốc men. Vạ lây. Mày khốn.”. Như thể không nghe thím Ba nói, dì Mây tiêm thuốc tê, thuốc trợ sức, rạch rộng rồi bảo cô Thanh cố rặn. Cô Thanh nhìn dì Mây bằng con mắt sợ hãi, cầu cứu. Dì nhỏ nhẹ: “Em cố lên. Hãy nghĩ đến đứa con. Nào… Cố lên em… Cố lên…”. Cô Thanh mím môi, oằn mình dồn sức. Khiếp quá! Mai chạy ra ngoài đứng. Lúc sau, nghe loáng thoáng tiếng dì Mây bảo thím Ba băng lại rốn cho đứa bé. Dì Mây khâu xong vừa lúc trời rạng, mưa ngớt từ lúc nào. Mồ hôi dì vã ra như tắm. Dì Mây thở phào. Thím Ba bảo: “Mặt nó tím ngắt mà không khóc.”. Dì Mây ghé miệng vào mũi nó mút mút rồi phát nhẹ vào đít nó một cái. Tiếng oe oe bật ra. Chú San ở ngoài nhảy cẫng lên: “Sống rồi! Con ơi!”. Ở trong, dì Mây gục luôn xuống bàn đỡ đẻ, khóc tức tưởi. “Ơ cái con này!”. Thím Ba ngạc nhiên. Dì Mây càng khóc to hơn. Tiếng khóc của dì hoà lẫn tiếng oe oe của đứa bé. Nghe xót xa, tủi hờn, xen lẫn niềm ao ước, chờ mong và vui buồn lẫn lộn. Chú San vào, bối rối. Thím Ba bảo: “Tôi hiểu ra rồi. Cứ để con Mây nó khóc. Xúm vào đưa vợ về phòng sau đẻ.”. Chú San lóng ngóng vịn vào xe đẩy. Khi chú San quay lại, dì Mây không còn ở đó nữa. Dưới nền trời bàng bạc là muôn triệu hạt mưa bụi li ti, giăng giăng bay trắng dòng sông Châu. Bóng dì Mây thấp thoáng trong bụi mưa, bước thấp, bước cao, ở phía cuối con đường về bến. […]
4. Tháng Ba lại về.
Hoa gạo nở rắc đầy lối xuống sông. Ông độ này yếu, thỉnh thoảng ho khúc khắc. Bờ bên kia ngổn ngang cọc xi măng, sắt thép […] Hôm Chỉ huy đến liên hệ cho bộ đội tập kết xây cầu, bố còn mặc cả: “Chú Quang này. Bến sông đầy bom bi chưa nổ. Lúc rà bom, tôi cho dân quân gác, đơn vị chú phải nuôi cơm.”. Thấy ảnh dì Mây đội mũ tai bèo treo trên tường, chú Quang giật mình, nhìn trân trân như bắt gặp người thân. Bố bảo: “Em gái nhà tôi đấy. Người ta báo tử từ dạo chưa giải phóng.”. Chú Quang lặng người. Hai mắt chớp chớp. Như người mất hồn, chú ngẩn ngơ về…
Lính công binh làm cầu rà bom suốt ngày ngụp lặn ở bến sông Châu. Người nào cũng đen ngòm, khoẻ như vâm, nhưng trông hiền khô. Lũ bạn Mai đi học qua suốt ngày trêu chọc… Ngồi trước trang sách, đầu óc Mai cứ để ở đâu đâu. Khổ thế! Người nôn nao, bứt rứt không yên. Mẹ hốt hoảng chạy về nhà, la lối: “Ôi em ơi là em ơi ời. Em sống khôn thác thiêng…”. Lo quá, Mai cứ nghĩ dì Mây… Bố quát: “Cái gì? Nói đi nào. Cứ ông ổng khóc.”. “Thím Ba… Mình ra mà coi… người ta bảo thím đun te vướng bom bi.”. Hoảng quá, Mai chạy theo bố ra bến sông. Chân cứ díu lại, trống ngực đánh thình thịch, tức thở. Người ta bọc vòng trong vòng ngoài. Bố đến, mọi người giãn ra. Dì Mây ngồi cạnh thím Ba, im phắc. Tóc dì xoã ra, mắt ráo hoảnh, vô hồn như nhìn về cõi xa xăm. Thím Ba đã tắt thở. […] Dưới sông te lưới nổi lập lờ, lập lờ.
Đám ma thím Ba về, bố sọp hẳn người. Ban đêm, thơ thẩn trong vườn lại ra cầu ao ngồi. Sáng, bố bảo dì Mây: “Tôi biết lúc sắp tắt thở, mẹ thằng Cún trăng trối để dì nuôi cháu. Tôi nghĩ chẳng biết có phải không. Dì cho nó về ở với tôi…”. Dì Mây gạt đi: “Cứ để tôi nuôi cháu, sau sẽ liệu.”. Bố bảo: “Tôi ơn dì.”.
Cuối thu, trời hơi se lạnh.
Giữa nền trời mờ đục, sếu từng đàn giăng giăng hình chữ V bay mải miết về phương Nam tránh rét. Trong làng thêm nhiều người đan áo. Ông mặc ấm mỗi lần xuống bến. Lính công binh bắc thêm một nhịp cầu. Họ kháo nhau thủ trưởng tán dì Mây không đổ. Ở bờ bên này họ bảo: “Dì Mây chắn cửa hầm che chở cho thương binh. Bom nổ người lính công binh sốt rét tóc rụng trọc đầu vẫn lành lặn, còn cô y sĩ Trường Sơn bị mảnh đạn phạt một chân.”. Bên kia bờ sông họ bảo: “Chú Quang sốt rét vẫn còn hành hạ, lấy vợ chắc gì đã có con.”. Lính đúc móng giữa dòng lại nói: “Chú Quang đi suốt dọc sông Châu tìm cô y sĩ Trường Sơn đã cứu mình thoát nạn.”. Dân xóm Trại thì đồn dì Mây sắp lấy chồng. Còn bên bến sông Châu là ngôi nhà tình nghĩa dựng ngay trên nền căn lều cũ, dì Mây thở dài: “Ngày ấy, ở Trường Sơn có hẹn ước gì đâu. Bây giờ người ta đã là kĩ sư. Còn mình… liệu có nên không?”. Rồi dì lại vỗ về ầu ơ ru thằng Cún ngủ.
Chuyện tình của thủ trưởng, chẳng biết có thật không, lính tráng truyền nhau dệt nên như huyền thoại. Nhưng có một sự thật chẳng hề nói quá: Đêm nào vắng tiếng ru vọng ra từ căn nhà mới xây bên bến sông Châu là những người lính công binh thao thức hoài, khó ngủ…
Đêm sông Châu.
Đất trời như giao hoà một màu bàng bạc. Muôn triệu vì sao chi chít, nhấp nháy, rắc đầy xuống bến sông. Làng quê lam lũ, mệt mỏi chìm vào giấc ngủ. Mùi hương cỏ mật lẫn vào mùi hương nồng nàn của đất phù sa dậy lên. Sông Châu thao thức. Sóng vỗ về, rì rầm bài ca ngàn xưa của đất trời. Văng vẳng trong đêm tiếng dì Mây ru thằng Cún ngủ. Giọng ầu ơ từ bến sông Châu lan xa, vang vọng. Lính công binh bắc cầu chợt dừng tay hàn, lắng nghe. Tiếng ru lúc đầu trầm lắng, nghèn nghẹn, xót xa, sau êm ái, trong sáng, mênh mang, ngân nga sâu lắng tận sâu thẳm con tim những người lính. Tiếng ru lẫn vào hơi thở sông nước trong đêm, hoà vào hương thơm của cây cỏ, đất trời.
Tháng 6 – 1997
(Người ở bến sông Châu, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội, 2001)
Có những phận người không đi qua chiến tranh bằng hào quang chiến thắng mà bằng những vết sẹo âm thầm còn lại suốt đời. Họ không xuất hiện trong những trang sử chói sáng, nhưng lại sống mãi trong ký ức của làng quê, của một dòng sông, của những mùa hoa trở lại. “Người ở bến sông Châu” của Sương Nguyệt Minh là một truyện ngắn như thế. Không ồn ào kịch tính, không bi lụy hóa đau thương, tác phẩm chạm đến người đọc bằng vẻ đẹp lặng lẽ của sự hi sinh và lòng vị tha sau chiến tranh.
Sương Nguyệt Minh là cây bút giàu trải nghiệm về đề tài chiến tranh và hậu chiến. Văn của ông thường không dừng lại ở những năm tháng bom đạn mà đi sâu vào số phận con người khi chiến tranh đã lùi xa. “Người ở bến sông Châu” đặt nhân vật vào một tình huống đầy nghịch cảnh. Dì Mây, một nữ quân y Trường Sơn, mất một chân vì cứu thương binh, trở về quê đúng vào ngày người yêu cũ tổ chức đám cưới. Chỉ riêng sự trùng hợp ấy đã đủ tạo nên một vết cứa âm thầm vào trái tim người đọc.
Khung cảnh bến sông ngày trở về được khắc họa với những chi tiết giàu ám gợi. Tiếng nhạc cưới rộn ràng vang lên giữa không gian làng quê. Cô dâu e ấp trong tà áo mới. Và giữa niềm vui ấy là dáng người tập tễnh của dì Mây với chiếc chân giả và ba lô bạc màu. Sự đối lập ấy không cần lời bình luận nào thêm. Nó tự nói lên tất cả. Đó là sự chênh lệch giữa tuổi xuân đã mất và hạnh phúc vừa kịp nở.
Bi kịch của dì Mây không chỉ nằm ở sự lỡ làng tình duyên. Dì đã gửi lại một phần thân thể nơi chiến trường. Dì đã đi qua những năm tháng máu lửa để đổi lấy bình yên cho người khác. Nhưng khi hòa bình trở lại, dì phải đối diện với khoảng trống riêng mình. Khi chú San bày tỏ mong muốn quay lại, dì dứt khoát từ chối. Dì hiểu rằng tình yêu không thể hồi sinh bằng cách làm tổn thương một người phụ nữ khác. Quyết định ấy là một lựa chọn đau đớn nhưng cao thượng. Nó cho thấy trong dì không chỉ có nỗi đau mà còn có sự tỉnh táo và lòng tự trọng sâu sắc.
Cao trào truyện được đẩy lên trong đêm mưa dì đến đỡ đẻ cho vợ chú San. Trong hoàn cảnh sinh tử mong manh, chính người phụ nữ tật nguyền ấy lại trở thành điểm tựa vững vàng nhất. Dì cứu sống cả hai mẹ con. Khi đứa trẻ cất tiếng khóc chào đời, dì bật khóc theo. Đó không chỉ là giọt nước mắt của một người thầy thuốc hoàn thành trách nhiệm. Đó còn là giọt nước mắt của một người phụ nữ đối diện với thiên chức làm mẹ chưa từng trọn vẹn của mình. Khoảnh khắc ấy khiến câu chuyện vượt lên trên bi kịch cá nhân để chạm vào chiều sâu nhân bản.
Sau biến cố ấy, dì Mây không rời khỏi quê hương. Dì ở lại bến sông Châu, tiếp tục làm y sĩ, tiếp tục sống giữa làng quê thân thuộc. Dì nhận nuôi một đứa trẻ mồ côi vì bom mìn còn sót lại. Hình ảnh người phụ nữ chống nạng ru con bên dòng sông là một biểu tượng đẹp. Chiến tranh có thể lấy đi tuổi trẻ, nhưng không thể lấy đi khả năng yêu thương. Từ nỗi đau riêng, dì đã mở rộng trái tim để chở che cho một số phận khác.
Bến sông Châu trong truyện không chỉ là một địa danh. Nó là không gian của ký ức và chứng nhân của thời gian. Nơi ấy chứng kiến buổi tiễn đưa năm xưa, ngày trở về lặng lẽ, đêm mưa vượt cạn và những buổi chiều yên ả sau này. Dòng sông vẫn chảy qua bao mùa như thời gian lặng lẽ trôi. Giữa dòng chảy ấy, dì Mây ở lại như một dấu lặng bền bỉ. Nhỏ bé nhưng không thể thay thế.
Nghệ thuật của truyện nằm ở giọng kể trầm tĩnh và giàu chất trữ tình. Tác giả không đẩy nhân vật vào những xung đột gay gắt mà để phẩm chất của họ bộc lộ qua hành động và lựa chọn. Những chi tiết như tiếng mưa đêm, tiếng trẻ khóc, ánh trăng bên bến nước tạo nên một không gian vừa thực vừa ám ảnh. Chính sự nhẹ nhàng ấy khiến nỗi đau không bị phô bày mà thấm sâu vào lòng người đọc.
“Người ở bến sông Châu” vì thế không chỉ là câu chuyện về một mối tình dang dở. Đó là bản khắc họa vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam sau chiến tranh. Họ chịu nhiều mất mát nhưng vẫn giữ được lòng nhân hậu và sự bao dung. Họ không đòi hỏi được bù đắp mà tự mình tìm ý nghĩa cho cuộc sống.
Khép lại truyện ngắn, điều còn đọng lại không phải là đám cưới năm nào hay cơn mưa đêm vượt cạn. Đó là hình ảnh dì Mây lặng lẽ bước đi bên bến nước, in dấu chân tròn xuống phù sa. Giữa bao biến động của đời người, dì chọn ở lại, chọn yêu thương và chọn sống tử tế. Và chính từ lựa chọn ấy, người đọc hiểu rằng vẻ đẹp lớn nhất của con người không nằm ở những gì họ giữ được cho mình, mà ở những gì họ sẵn sàng hi sinh để người khác được bình yên.
Nguồn ảnh minh họa: Sưu tầm
———————————-
Học Văn cô Diệu Thu – Hệ sinh thái học văn toàn diện, dễ dàng
Hotline: 0833.873.089
Địa chỉ: 68 Thụy Phương, Đông Ngạc, Hà Nội
Website: https://letrandieuthu.com
#hocvanbangcongthuc #cogiaodieuthu #hocvancodieuthu #nguoiobensong #suongnguyetminh #vanhoc #phantichvanhoc #nghiluanvanhoc #NLVH #phantichtruyen
