PHÂN TÍCH “BẦY CHIM CHÌA VÔI” CỦA NGUYỄN QUANG THIỀU

Giữa một đêm mưa dữ dội, khi dòng sông Đáy không ngừng dâng nước, hai đứa trẻ Mên và Mon chỉ đau đáu một nỗi lo, liệu bầy chim chìa vôi non có kịp cất cánh? Từ câu chuyện nhỏ bé giữa thiên nhiên rộng lớn, Học văn Cô Diệu Thu cùng bạn đọc đến với “Bầy chim chìa vôi” của Nguyễn Quang Thiều, để lắng nghe nhịp đập trong trẻo của một tâm hồn trẻ thơ, để xúc động trước tình yêu thương và hơn hết, để chứng kiến khoảnh khắc những đôi cánh non nớt run rẩy bay lên, mang theo vẻ đẹp kì diệu của sự sống và trưởng thành.
VĂN BẢN:
Khoảng hai giờ sáng Mon tỉnh giấc. Nó xoay mình sang phía anh nó, thì thào gọi:
– Anh Mên ơi, anh Mên!
– Gì đấy? Mày không ngủ à? – Thằng Mên hỏi lại, giọng nó ráo hoảnh như đã thức dậy từ lâu lắm rồi.
– Anh bảo mưa có to không?
– Lại chẳng to. Thế mày không nghe thấy gì à?”
– Nhưng anh bảo nước sông lên có to không?
– Bây giờ phải ngập đến cánh bãi dưới rồi.
– Thế anh bảo…
– Bảo cái gì mà bảo lắm thế – Mên gắt em nó.
– Em bảo – Mon ngập ngừng. – Thế cái bãi cát giữa sông đã ngập chưa?
– Ừ nhỉ. – Giọng thằng Mên chợt thảng thốt. – Có lẽ sắp ngập mất bãi cát rồi.
– Em sợ những con chim chìa vôi non bị chết đuối mất.
– Tao cũng sợ.
– Thế anh bảo chúng nó có bơi được không?
– Chim thì bơi làm sao được. Mày làm chim chìa vôi cứ như vịt ấy.
Hai đứa bé nằm trong chiếc chăn dạ đã rách nhiều chỗ thì thầm nói chuyện. Bên ngoài mưa vẫn to. Trong tiếng mưa hình như có tiếng nước sông dâng cao, xiên xiết chạy
– Chiều qua em theo bố đi kéo chũm ở gần cống sông ây.
– Thế thì sao?
– Bố bảo chỉ có sông ở làng mình chim chìa vôi mới làm tổ như thế. Sao nó lại không làm tổ ở trên bờ hả anh?
– Tao không biết.
[…] Hai đứa bé nằm im, nhưng không ngủ.
Có lẽ bố chúng nó nói đúng. Chỉ ở khúc sông chúng, những con chim chìa vôi mới làm tổ như thế. Hàng năm vào mùa nước cạn, giữa sông làng nổi lên một dải cát. Sau một thời gian, những đám rong sông tốt  bời bời héo dần làm thành một lớp đệm trên cát. Vào lúc đó, những con chim chìa vôi mảnh khảnh và ít lời từ hai bờ sông bay ra bãi cát. Chúng tìm những đám dày để đẻ trứng. Khi những con chim chìa vôi đã đủ lông cánh cũng là lúc có những đám mây lạ từ dãy núi đá vôi Hòa Bình bay về báo hiệu mùa mưa. Những tiếng sấm sau mỗi đêm lại chuyển dần từ một chân trời xa về bên kia sông. Và bất chợt một đêm
nào gần sáng, sấm nổ vang trên nóc nhà và mưa ném xuống. Con sông Đáy cựa mình lớn lên. Chỉ sau dăm đêm, dải cát nổi giữa sông chìm vào trong nước đỏ. Khi vòng vây của nước ập vào phần cuối cùng của bãi cát thì những con chim chìa vôi non lần đầu tiên trong đời đập cánh bay lên. Những con chim bé bỏng bút khỏi dòng nước khổng lồ bay vào bờ. Và đến mùa khô sang năm chúng lại ra dải cát nổi bắt đầu mùa sinh nở của chúng. […]
(2)
Mùa mưa năm nay như về sớm hơn. Mây ngày mưa liên miên và nước sông dâng lên rất nhanh.
– Anh ơi! – Thằng Mon lại thì thào gọi.
– Gì?
– Anh đã nhìn thấy chim chìa vôi nó bay từ bãi cát vào bờ bao giờ chưa?
– Chưa
– Tổ chim sẽ bị chìm mất.
Thằng Mên nằm im lặng không trả lời em nó. Lâu sau nó hỏi:
– Thế làm thế nào bây giờ?
– Hay mình mang chúng nó vào bờ.
– Bây giờ nước to lắm, làm sao mà lội ra đấy được.
– Em không biết.
Hai đứa bé lại nằm im lặng. Mưa vẫn đổ xuống mái nhà và gió vẫn thỏi vào phên cửa liếp cành cạch.
– Chiều qua bố kéo chũm được một con cá măng.
– Thế mà cũng khoe, ai mà chẳng biết.
– Cả một con cá bống rất to và đẹp. Em lấy trộm con cá bống.
– Thế để đâu rồi? — Thằng Mên quay sang phía em nó hỏi.
– Em thả vào chỗ cống sông rồi. Anh bảo đấy có phải là con bống ở hốc đò dưới bến không?
– Mày có nhìn thấy cái chấm đen to ở vậy nó không?
– Em không nhìn. Chiều về đổ giỏ cá ra chậu, bố kêu mất con bống. Bố bảo có khi con cá măng ăn con bống rồi. Bỗ bảo mẹ mổ con măng ra xem có con bống trong bụng nó không.
– Hí hí. – Thằng Mên bật cười khoái chí.
– Cái hốc cắm sào đò ngập bủm rồi anh nhỉ?
– Ngập từ chiều hôm kia rồi. Ngập đến mái nhà con bống cũng chẳng sợ.
– Anh ơi…
– Gì?
– Tổ chim ngập mất anh ạ. Mình phải mang chúng nó vào bờ, anh ạ.
– Đi bây giờ à? – Thằng Mên hỏi sau một phút im lặng.
– Vâng, cứ lấy đò của ông Hảo mà đi. […]
(3)
Trôi đến đoạn sông cách bến đò làng chúng chừng gần hai cây số con đò mới tạt được vào bờ.
– Vào bờ rồi anh ơi. — Thằng Mon kêu lên sung sướng.
– Chứ còn sao. – Lúc này giọng thằng Mên tỏ vẻ rất người lớn. – Nào xuống đò được rồi đấy.
Hai anh em thằng Mên lập cập tụt khỏi đò.
– Mình để đò lại đây hả anh?
– Phải kéo về bến chứ, không thì chết. Bây giờ tao kéo còn mày đẩy.
Thằng Mên quấn cái dây buộc đò vào người nó và gò lưng kéo. Phía sau, thằng Mon lội bì bõm đẩy.
– Cái dải cát chưa chìm đâu anh nhỉ?
– Chắc là chưa.
Khi hai đứa bé đưa được con đò trở về chỗ cũ thì trời đã tang tảng sáng. Chúng vội vã tìm cách buộc đò lại. Rồi ngay sau đó, cả hai đứa bé không nói gì và cùng chạy ngược lên đoạn bờ sông đối diện với
– Anh có nhìn thấy gì không?
– Tao chưa nhìn thấy, còn tối lắm.
– Thế anh bảo đã ngập hết chưa?
– Để tao nhìn xem. – Thằng Mên nói và ngồi thụp xuống. Nó căng mắt nhìn sát mặt sông.
– Ướt cánh, chim nó có bay được không?
– Mày lội ra đấy mà hỏi.
– Anh ơi, có khi bố dậy rồi đấy.
Sau câu nói của thằng Mon, cả hai đứa trẻ bắt đầu thấy sợ. Từ phía ngôi nhà của chúng ở chân đê vọng lại tiếng người lớn gắt gỏng điều gì đẩy. Hai đứa trẻ vẫn căng mắt nhìn ra giữa dòng sông. Trời đã sáng.
– Anh ơi, kia kìa, bãi cát. – Thằng Mon chợt kêu lên
– Ừ, đúng rồi. Vẫn chưa ngập hết. Còn bằng cái mũ thôi
– Anh bảo bầy chim còn ở đó không?
– Không biết. Nhưng bố bảo khi nước vừa ngập hết thì chim mới bay lên
– Sao chúng lại không bay trước?
– Làm sao mà tao biết được
Khi ánh bình minh đã đủ sáng để soi rõ những mưa trên mặt sông thì cũng là lúc dòng nước khổng lồ
nuốt chửng phần còn lại cuối cùng của dải cát. Và trong mắt hai đứa trẻ, một cảnh tượng như huyền thoại. Từ mặt nước sông, những cánh chim bé bỏng và ướt át đột ngột bứt khỏi dòng nước khổng lồ bay lên. Hai đứa bé không kêu lên được một tiếng nào. Người chúng như đang ngùn ngụt toả hơi nóng.
Suốt từ chiều hôm qua, nước bắt đầu dâng lên nhanh hơn. Nước dâng lên đến đâu, con chim bố và chim mẹ lại dẫn bầy chim non tránh nước lên theo đến đó. Cứ như thế chúng tiến dần đến phần cao nhất của dải cát. Và cứ thế bầy chim non nhảy lò cò trên những đôi chân mảnh dẻ chưa thật cứng cáp và đập cánh suốt đêm. Chim bố và chim mẹ vừa đập cánh theo đàn con vừa dẫn chúng đi. Hình như chúng biết cách chính xác khi nào thì đàn con chúng mới đủ sức để nâng mình lên khỏi mặt đất đảm bảo. Nếu bầy chim con cất cánh sớm hơn, chúng sẽ bị rơi xuống dòng nước trên đường từ bãi cát vào bờ. Và nếu chúng cất cánh chậm một giây thôi, chúng sẽ bị dòng nước cuốn chìm.
Và bây giờ bầy chim đã bay lên. Mặt trời như lên nhanh hơn mọi ngày và mưa đã đột ngột tạnh hẳn. Bỗng một con chim như đuối sức. Đôi cánh của nó chợt như dừng lại, nó rơi xuống như một chiếc lá. Con chim mẹ xoè rộng đôi cánh lượn quanh đứa con và kêu lên. Nhưng khi đôi chân mảnh dẻ và run rẩy của con chim non chạm vào mặt sông thì đôi cánh của nó đập một nhịp quyết định. Tấm thân bé bỏng của con chim vụt bút ra khỏi dòng nước và bay lên cao hơn lần cất cánh đầu tiên ở bãi cát.
Quanh hai đứa bé tất cả vụt im lặng, chỉ có tiếng đập cánh quyết liệt của bầy chim non. Hình như chúng nghe thấy trong ngực mình nhịp đập của những trái tim hối hả nhưng đều đặn. Cuối cùng bầy chim non đã thực hiện xong chuyến bay quan trọng, đầu tiên và kì vĩ nhất trong đời chúng. Những đôi cánh mỏng manh run rẩy và đầy tự tin của bầy chim đã hạ xuống bên một lùm dứa dại bờ sông.
Hai anh em thằng Mên vẫn đứng không nhúc nhích.
Trên gương mặt tái nhợt vì nước mưa của chúng hừng lên ánh ngày. Thằng Mên lặng lẽ quay lại nhìn em nó. Và cả hai đứa bé nhận ra chúng đã khóc từ lúc nào.
– Tại sao mày lại khóc? – Thằng Mên hỏi
– Em không biết, thế anh?
Hai anh em thăng Mên nhìn nhau và cùng bật cười ngượng nghịu. Rồi bỗng cả hai đứa cùng quay người và rướn mình chạy về phía ngôi nhà của chúng. Được một đoạn, thằng Mon đứng lại thở và gọi:
– Anh Mên, anh Mên. Đợi em với. Không em ứ chơi với anh nữa.
(Nguyễn Quang Thiều, Mùa hoa cải bên sông, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội, 2012, tr. 136 – 146)
PHÂN TÍCH:

Nguyễn Quang Thiều là một trong những cây bút giàu sức sáng tạo của văn học Việt Nam đương đại. Văn chương của ông thường hướng ánh nhìn về những điều bình dị của đời sống, từ đó phát hiện ra vẻ đẹp trong trẻo, nhân hậu ẩn sâu trong tâm hồn con người. “Bầy chim chìa vôi”, trích từ tập truyện “Mùa hoa cải bên sông”, là một câu chuyện như thế. Qua cuộc hành trình trong đêm mưa của hai anh em Mên và Mon để tìm đến bãi cát giữa dòng sông, Nguyễn Quang Thiều không chỉ kể một câu chuyện xúc động về những chú chim nhỏ mà còn làm hiện lên vẻ đẹp của tình anh em, lòng yêu thương sự sống và khoảnh khắc con người rung động trước sự kì diệu của thiên nhiên.

Điểm đặc biệt của “Bầy chim chìa vôi” trước hết nằm ở cách nhà văn xây dựng một tình huống truyện giàu sức gợi. Câu chuyện bắt đầu vào khoảng hai giờ sáng, khi Mon tỉnh giấc giữa một đêm mưa lớn. Điều khiến cậu bé không thể ngủ không phải là tiếng mưa, cũng không phải nỗi sợ hãi trước dòng sông đang dâng cao, mà là một câu hỏi rất hồn nhiên: “Thế cái bãi cát giữa sông đã ngập chưa?”. Đằng sau câu hỏi tưởng như đơn giản ấy là một nỗi lo chân thành dành cho những con chim chìa vôi non đang mắc kẹt giữa dòng nước. Từ một bãi cát nhỏ giữa sông, nhà văn mở ra cả một thế giới của sự sống đang đứng trước thử thách. Nước càng dâng, sự sống càng trở nên mong manh, và chính trong hoàn cảnh ấy, vẻ đẹp của lòng yêu thương càng được bộc lộ rõ ràng.

Hai nhân vật Mên và Mon được Nguyễn Quang Thiều khắc họa chủ yếu thông qua những cuộc đối thoại ngắn. Cách xây dựng nhân vật ấy rất tự nhiên, phù hợp với tâm lí trẻ thơ. Mon hiện lên là một cậu bé hồn nhiên, nhạy cảm và giàu lòng trắc ẩn. Trong đêm mưa, hết lần này đến lần khác, em gọi anh để hỏi về bãi cát, về tổ chim, về khả năng sống sót của những chú chim non. Những câu hỏi liên tiếp của Mon đôi khi khiến Mên cáu: “Bảo cái gì mà bảo lắm thế”. Nhưng đằng sau sự ngây thơ ấy lại là một trái tim vô cùng nhân hậu. Mon không chỉ thương những con chim, em còn muốn làm một điều gì đó để cứu chúng.

Mên lại mang dáng vẻ của một người anh. Cậu có phần cứng cỏi, bình tĩnh và luôn cố tỏ ra người lớn trước em mình. Khi Mon hỏi, Mên nhiều lúc trả lời cụt ngủn, thậm chí gắt gỏng. Nhưng thực chất, Mên cũng đang lo lắng. Khi Mon nói “Em sợ những con chim chìa vôi non bị chết đuối mất”, Mên lập tức đáp: “Tao cũng sợ”. Chỉ một câu nói ngắn ngủi nhưng đã cho thấy sự đồng điệu giữa hai anh em. Cả hai đều có chung một nỗi thương yêu, cùng hướng về những sinh linh bé nhỏ đang bị đe dọa.

Tình cảm ấy ngày càng trở nên sâu sắc khi hai anh em quyết định ra bãi cát giữa sông. Đó không phải là một quyết định dễ dàng. Nước sông đang dâng nhanh, trời vẫn mưa, con đò có thể bị cuốn trôi. Mên biết nguy hiểm nhưng cuối cùng vẫn đồng ý: “Đi bây giờ à?”. Và Mon đáp: “Vâng, cứ lấy đò của ông Hảo mà đi”. Hai đứa trẻ nhỏ bé đã vượt qua nỗi sợ của chính mình để đi cứu những chú chim. Hành động ấy khiến vẻ đẹp tâm hồn của các em trở nên nổi bật. Các em chưa đủ lớn để hiểu những khái niệm lớn lao như trách nhiệm hay tình yêu thương, nhưng lại biết yêu thương bằng cách tự nhiên nhất, đó là không thể đứng yên khi chứng kiến một sự sống đang gặp nguy hiểm.

Hành trình của Mên và Mon vì thế cũng là hành trình trưởng thành của tâm hồn. Hai cậu bé phải đối diện với dòng nước dữ, với bóng tối và cả nỗi sợ bị người lớn phát hiện. Nhưng điều khiến các em bước đi vẫn là mong muốn bảo vệ những con chim nhỏ. Đặc biệt, chi tiết Mên “quấn cái dây buộc đò vào người nó và gò lưng kéo”, còn Mon “lội bì bõm đẩy” cho thấy sự đoàn kết, gắn bó giữa hai anh em. Trong một đêm đầy thử thách, chúng vừa là những đứa trẻ nhỏ bé, vừa như những người bảo vệ âm thầm của sự sống.

Nếu Mên và Mon khiến người đọc xúc động bởi lòng yêu thương thì bầy chim chìa vôi lại đem đến một vẻ đẹp đầy kì diệu. Nhà văn dành nhiều trang viết để miêu tả cuộc chiến sinh tồn của những chú chim non. Khi nước sông dâng lên, chim bố và chim mẹ “dẫn bầy chim non tránh nước lên theo đó”. Những con chim nhỏ “nhảy lò cò trên những đôi chân mảnh dẻ chưa thật cứng cáp và đập cánh suốt đêm”. Hình ảnh ấy vừa mong manh vừa mạnh mẽ. Những đôi cánh còn non nớt phải đối mặt với dòng nước khổng lồ, nhưng bản năng sinh tồn đã thôi thúc chúng cố gắng đến giây phút quyết định.

Nguyễn Quang Thiều đặc biệt thành công khi miêu tả khoảnh khắc bầy chim cất cánh. Dải cát cuối cùng chìm xuống nước, và “những cánh chim bé bỏng và ướt át đột ngột bứt khỏi dòng nước khổng lồ bay lên”. Câu văn tạo nên một sự tương phản mạnh mẽ giữa cái bé nhỏ của những cánh chim và sự khổng lồ, dữ dội của dòng sông. Một bên là những sinh linh non nớt, một bên là thiên nhiên dữ dội. Nhưng cuối cùng, sự sống đã chiến thắng. Bầy chim đã bay lên bằng chính đôi cánh của mình.

Đặc biệt xúc động là khoảnh khắc một chú chim non kiệt sức giữa đường bay. “Đôi cánh của nó chợt như dừng lại, nó rơi xuống như một chiếc lá”. Trong giây phút tưởng như tuyệt vọng ấy, chim mẹ lập tức “xòe rộng đôi cánh lượn quanh đứa con và kêu lên”. Hình ảnh chim mẹ khiến câu chuyện về bầy chim trở thành một câu chuyện về tình mẫu tử. Nhưng điều quan trọng hơn là chú chim non cuối cùng đã tự mình đập cánh, vượt lên khỏi mặt nước và bay cao hơn lần cất cánh đầu tiên. Đó là khoảnh khắc sự sống tự khẳng định sức mạnh của mình. Chim mẹ có thể chở che, nhưng đôi cánh của chính chú chim non mới giúp nó thực sự trưởng thành.

Qua hình ảnh bầy chim chìa vôi, Nguyễn Quang Thiều dường như muốn nói với người đọc một điều giản dị mà sâu sắc. Trong mỗi sinh linh đều tồn tại một bản năng sống mãnh liệt. Để trưởng thành, mỗi cá thể đều phải có một thời khắc tự mình cất cánh. Bầy chim non chỉ có thể bay khi dải cát cuối cùng bị nhấn chìm. Chính nghịch cảnh đã buộc chúng phải bước qua giới hạn của mình. Vì thế, cuộc bay ấy không chỉ là một cuộc chạy trốn khỏi dòng nước mà còn là chuyến bay đầu tiên vào cuộc đời.

Khoảnh khắc ấy cũng làm thay đổi hai anh em Mên và Mon. “Hai đứa bé không kêu lên được một tiếng nào. Người chúng như đang ngùn ngụt tỏa hơi nóng.” Sự im lặng của các em chứa đựng một cảm xúc quá lớn. Đó là sự kinh ngạc, hồi hộp, sung sướng và xúc động trước vẻ đẹp của sự sống. Đặc biệt, khi bầy chim hoàn thành chuyến bay đầu tiên, hai đứa trẻ nhận ra rằng mình đã khóc từ lúc nào. Mên hỏi: “Tại sao mày lại khóc?”. Mon trả lời: “Em không biết, thế anh?”. Không ai giải thích được nước mắt của mình, bởi có những xúc động vượt ra ngoài khả năng gọi tên của ngôn ngữ.

Chi tiết hai anh em “cùng bật cười ngượng nghịu” sau khi nhận ra mình đã khóc càng khiến câu chuyện trở nên trong trẻo. Đó là tiếng cười của những đứa trẻ vừa trải qua một khoảnh khắc đặc biệt. Chúng chưa thể diễn đạt thành lời những gì mình cảm nhận, nhưng trong tâm hồn chúng đã có một sự trưởng thành âm thầm. Chuyến bay của bầy chim cũng trở thành chuyến bay của cảm xúc, giúp hai đứa trẻ biết yêu thương, biết hồi hộp trước sự sống và biết rung động trước cái đẹp.

Không chỉ thành công về nội dung, “Bầy chim chìa vôi” còn hấp dẫn bởi nghệ thuật kể chuyện tinh tế. Nguyễn Quang Thiều sử dụng ngôi kể thứ ba nhưng điểm nhìn phần lớn đặt vào hai đứa trẻ, nhờ vậy câu chuyện giữ được vẻ hồn nhiên, tự nhiên. Ngôn ngữ đối thoại ngắn gọn, gần với lời ăn tiếng nói của trẻ em, khiến nhân vật hiện lên chân thực. Nhà văn cũng xây dựng rất khéo sự đối lập giữa bóng tối và ánh sáng, giữa mưa lũ dữ dội và những cánh chim nhỏ bé, giữa sự mong manh và sức sống mãnh liệt. Nhịp kể chậm rãi ở phần đầu rồi dồn dập ở khoảnh khắc bầy chim cất cánh, khiến cao trào của truyện trở nên đặc biệt xúc động.

Hình ảnh “bầy chim chìa vôi” vì thế mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc. Đó là biểu tượng của sự sống nhỏ bé nhưng kiên cường, của tình yêu thương và khả năng vượt qua nghịch cảnh. Còn Mên và Mon chính là những tâm hồn trẻ thơ trong sáng, biết hướng tình thương của mình đến cả những sinh linh bé nhỏ nhất. Nhà văn không lên lớp, không đưa ra những lời giáo huấn trực tiếp, mà để bài học tự nảy sinh từ câu chuyện. Đọc truyện, ta hiểu rằng lòng nhân ái đôi khi bắt đầu từ một điều rất nhỏ, từ việc biết thương một con chim, biết lo lắng trước một sự sống khác mình.

“Bầy chim chìa vôi” khép lại nhưng dư âm về chuyến bay đầu tiên của những chú chim non vẫn còn ở lại. Đó không chỉ là chuyến bay thoát khỏi dòng nước lũ, mà còn là biểu tượng cho hành trình trưởng thành của mọi sự sống. Bằng một câu chuyện giản dị, Nguyễn Quang Thiều đã đánh thức trong người đọc sự trân trọng đối với thiên nhiên, đối với tình thân và đối với sức mạnh kì diệu của sự sống. Có lẽ vì thế, điều khiến người đọc nhớ nhất sau trang văn không phải là dòng nước dữ hay đêm mưa lạnh, mà chính là những cánh chim nhỏ bé đã run rẩy cất lên giữa dòng sông, mang theo niềm tin rằng sự sống, khi được nâng đỡ bởi tình yêu thương và sức mạnh nội tại, luôn có khả năng tìm thấy bầu trời của mình.

Khóa học ngữ văn

Xem chi tiết
Xem chi tiết
Xem chi tiết
Xem chi tiết
Xem chi tiết
Xem chi tiết
Xem chi tiết