PHÂN TÍCH “VỢ NHẶT” CỦA KIM LÂN

“Vợ nhặt” của Kim Lân là một trong những tác phẩm đặc sắc viết về người nông dân Việt Nam trong nạn đói năm 1945, nơi cái đói và cái chết bao trùm nhưng tình yêu thương, khát vọng hạnh phúc và niềm tin vào sự sống vẫn bền bỉ tỏa sáng. Trong bài viết này, Học văn Cô Diệu Thu cùng các em khám phá sâu sắc giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm, từ tình huống “nhặt vợ” độc đáo, diễn biến tâm lí của Tràng, người vợ nhặt, bà cụ Tứ đến ý nghĩa của hình ảnh lá cờ đỏ ở cuối truyện. Qua đó, vẻ đẹp nhân đạo và sức sống mãnh liệt của con người trong “Vợ nhặt” được soi chiếu một cách toàn diện, giúp các em có thêm những gợi ý quan trọng khi học tập và làm bài phân tích tác phẩm.

VĂN BẢN:

(Lược phần đầu: Trước kia mỗi chiều đi làm về, Tràng chỉ đi một mình, anh thường đùa vui với lũ trẻ trong xóm ngụ cư. Nhưng độ này, trên đường về nhà, người ta thấy anh tỏ ra mỏi mệt, vẻ mặt đăm chiêu, lo lắng và lũ trẻ cũng ủ rũ, không buồn ra đón anh nữa.)

 

Cái đói đã tràn đến xóm này tự lúc nào. Những gia đình từ những vùng Nam Định, Thái Bình, đội chiếu lũ lượt bồng bế, dắt díu nhau lên xanh xám như những bóng ma, và nằm ngổn ngang khắp lều chợ. Người chết như ngả rạ. Không buổi sáng nào người trong làng đi chợ, đi làm đồng không gặp ba bốn cái thây nằm còng queo bên đường. Không khí vẩn lên mùi ẩm thối của rác rưỏi và mùi gây của xác người.

 

Giữa cái cảnh tối sầm lại vì đói khát ấy, một buổi chiều người trong xóm bỗng thấy Tràng về với một người đàn bà nữa. Mặt hắn có một vẻ gì phón phở khác thường. Hắn tủm tỉm cười nụ một mình và hai mắt thì sáng lên lấp lánh. Người đàn bà đi sau hắn chừng ba bốn bước. Thị cắp cái thúng con, đầu hơi cúi xuống, cái nón rách tàng nghiêng nghiêng che khuất đi nửa mặt. Thị có vẻ rón rén, e thẹn. Mấy đứa trẻ con thấy lạ vội chạy ra đón xem. Sợ chúng nó đùa như ngày trước, Tràng vội vàng nghiêm nét mặt, lắc đầu ra hiệu không bằng lòng.

 

Mấy đứa trẻ đứng dừng lại, nhìn Tràng, đột nhiên có đứa gào lên :

 

– Anh Tràng ơi ! – Tràng quay đầu lại. Nó lại cong cố gào lên lần nữa – Chồng vợ hài.

 

Tràng bật cười :

 

– Bố ranh!

 

Người đàn bà có vẻ khó chịu lắm. Thị nhíu đôi lông mày lại, đưa tay lên xóc xóc lại tà áo. Ngã tư xóm chợ về chiều càng xác xơ, heo hút. Từng trận gió từ cánh đồng thổi vào, ngăn ngắt. Hai bên dãy phố, úp súp, tối om, không nhà nào có ánh đèn, lửa. Dưới những gốc đa, gốc gạo xù xì, bóng những người đói dật dờ đi lại lặng lẽ như những bóng ma. Tiếng quạ trên mấy cây gạo ngoài bãi chợ cứ gào lên từng hồi thê thiết.

 

Nhìn theo bóng Tràng và bóng người đàn bà lủi thủi đi về bến, người trong xóm lạ lắm. Họ đúng cả trong ngưỡng của nhìn ra bàn tán. Hình như họ cũng hiểu được đôi phần. Những khuôn mặt hốc hác u tối của họ bỗng dưng rạng rỡ hẳn lên. Có cái gì lạ lùng và tươi mát thổi vào cuộc sống đói khát, tăm tối ấy của họ. Một người thở dài. Người khác khẽ thì thầm hỏi:

 

– Ai đấy nhỉ ?… Hay là người dưới quê bà cụ Tứ mới lên ?

 

– Chả phải, từ ngày còn mồ ma ông cụ Tứ có thấy họ mạc nào lên thăm đâu.

 

− Quái nhỉ?

 

Im một lúc, có người bỗng lại cười lên rung rúc.

 

– Hay là vợ anh cu Tràng ? Ừ, khéo mà vợ anh cu Tràng thật anh em ạ, trông chị ta thèn thẹn hay đáo để.

 

– Ôi chao ! Giời đất này còn rước cái của nợ đời về. Biết có nuôi nói nhau sống qua được cái thì này không ?

 

Họ cùng nín lặng.

 

Người đàn bà như cũng biết xung quanh người ta đang nhìn dồn cả về phía mình, thị càng ngượng nghịu, chân nọ bước díu cả vào chân kia. Hắn cũng biết thế, nhưng hắn lại lấy vậy làm thích ý lắm, cái mặt cứ vênh lên tự đắc với mình.

 

(Lược một đoạn : Trên đường về nhà, người đàn bà thì ngượng nghịu, còn Tràng thì tỏ ra thích chí và tụ đắc. Thỉnh thoảng họ nói với nhau những lời vụng về, lúng túng.)

 

Thị lẳng lặng theo hắn vào trong nhà, cái nhà vắng teo đúng rúm ró trên mảnh vườn mọc lớn nhổn những búi cỏ dại. Thị đảo mắt nhìn xung quanh, cái ngực gầy lép nhô lên, nên một tiếng thở dài. Tràng xăm xăm bước vào trong nhà, nhấc tấm phên rách sang một bên, thu dọn những niêu bát, xống áo vứt bừa bộn cả trên giường, dưới đất. Hắn quay lại nhìn thị cười cười :

 

– Không có người đàn bà, nhà cửa thế đấy!

 

Thị nhếch mép cười nhạt nhẽo. Tràng vỗ vỗ xuống giường đon đả :

 

– Ngồi đây!… Ngồi xuống đây, tự nhiên…

 

Người đàn bà theo lời hắn ngồi móm xuống mép giường. Cả hai bỗng cùng ngượng nghịu. Tràng đứng tây ngày ra giữa nhà một lúc, chợt hắn thấy sờ sợ. Chính hắn cũng không hiểu sao hắn sợ, hắn lấm lét bước vội mấy bước ra sân

 

gắt lên :

 

– Sao hôm nay bà lão về muộn thế không biết!

 

Hắn loanh quanh hết chạy ra ngõ đứng ngóng, lại chạy vào sân nhìn trộm vào trong nhà. Thị vẫn ngồi mớm ở mép giường, hai tay ôm khư khu cái thúng, mặt bần thần.

 

Hắn nghĩ bụng : “Quái sao nó lại buồn thế nhỉ ?… Ồ sao nó lại buồn thế nhỉ ?..”. Hắn nhổ vu vơ một bãi nước bọt, tủm tỉm cười một mình. Nhìn thị ngồi ngay giữa nhà, đến bây giờ hắn vẫn còn ngờ ngợ như không phải thế. Ra hắn đã có vợ rồi đấy ư ? Hà! Việc xảy ra thật hắn cũng không ngờ, hắn cũng chỉ tầm phơ tầm phào đâu có hai bận, ấy thế mà thành vợ thành chồng…

 

Ít lâu nay hắn xe thóc Liên đoàn lên tỉnh. Mỗi bận qua của nhà kho lại thấy mấy chị con gái ngồi vêu ra ở đấy. Hắn đoán họ ngồi đấy nhặt hạt rơi hạt vãi, hay ai có công việc gì gọi đến thì làm. Một lần hắn đang gò lưng kéo cái xe bò thóc vào dốc tỉnh, hắn hò một câu chơi cho đỡ nhọc. Hắn hò rằng:

 

Muốn ăn com trắng mấy giò này !

 

Lại đây mà đẩy xe bò với anh, nì !

 

Chủ tâm hắn cũng chẳng có ý chòng ghẹo cô nào, nhưng mấy cô gái lại cứ đẩy vai cô ả này ra với hắn, cười như nắc nẻ :

 

– Kìa anh ấy gọi! Có muốn ăn cơm trắng mấy giò thì ra đẩy xe bò với anh ấy!

 

Thị cong cớn :

 

– Có khối cơm trắng mấy giò đấy! Này, nhà tôi ơi, nói thật hay nói khoác đấy ?

 

Tràng ngoái cổ lại vuốt mồ hôi trên mặt cười :

 

– Thật đấy, có đẩy thì ra mau lên!

 

Thị vùng đứng dậy, ton ton chạy lại đẩy xe cho Tràng.

 

– Đã thật thì đẩy chứ sợ gì, đằng ấy nhỉ. – Thị liếc mắt, cười tít.

 

Tràng thích lắm. Từ cha sinh mẹ đẻ đến giờ, chưa có người con gái nào cười với hắn tình tứ như thế.

 

Lần thứ hai, Tràng vừa trả hàng xong, ngồi uống nước ở ngoài cổng chợ tỉnh thì thị ở đâu sầm sập chạy đến. Thị đứng trước mặt hắn sưng sia nói :

 

– Điêu! Người thế mà điêu!

 

Hắn giương mắt nhìn thị, không hiểu. Thật ra lúc ấy hắn cũng chưa nhận ra thị là ai. Hôm nay thị rách quá, áo quần tả tơi như tổ đỉa, thị gầy sọp hẳn đi, trên cái khuôn mặt lưỡi cày xám xịt chỉ còn thấy hai con mắt.

 

– Hôm ấy leo léo cái mồm hẹn xuống, thế mà mất mặt.

 

À, hắn nhớ ra rồi, hắn toét miệng cười.

 

– Chả hôm ấy thì hôm nay vậy. Này hằng ngồi xuống ăn miếng giầu đã.

 

– Có ăn gì thì ăn, chả ăn giầu.

 

Thị vẫn đúng cong cớn trước mặt hắn.

 

– Đấy, muốn ăn gì thì ăn.

 

Hắn vỗ vỗ vào túi.

 

– Rích bố cu, hở!

 

Hai con mắt trũng hoáy của thị tức thì sáng lên, thị đon đả:

 

— Ăn thật nhá ! Ừ ăn thì ăn sợ gì.

 

Thế là thị ngồi sà xuống, ăn thật. Thị cắm đầu ăn một chặp bốn bát bánh đúc liền chẳng chuyện trò gì. Ăn xong thị cầm dọc đòi đũa quệt ngang miệng, thở:

 

– Hà, ngon! Về chị ấy thấy hụt tiền thì bỏ bố.

 

Hắn cười :

 

– Làm đếch gì có vợ. Này nói đùa chứ có về với tớ thì ra khuân hàng lên xe rồi cùng về.

 

Nói thế Tràng cũng tưởng là nói đùa, ai ngờ thị về thật. Mới đầu anh chàng cũng chọn, nghĩ : thóc gạo này đến cái thân mình cũng chả biết có nuôi nổi không, lại còn đèo bòng. Sau không biết nghĩ thế nào hắn tặc lưỡi một cái :

 

− Chậc, kệ!

 

Hôm ấy hắn đưa thị vào chợ tỉnh bỏ tiền ra mua cho thị cái thúng con đựng vài thứ lặt vặt và ra hàng cơm đánh một bữa thật no nê rồi cùng đẩy xe bò về…

 

Tràng chợt đứng dừng lại, lắng tai nghe. Ngoài đầu ngõ có tiếng người húng hắng ho, một bà lão từ ngoài rặng tre lọng khọng đi vào. Bà lão vừa đi vừa lẩm bẩm tính toán gì trong miệng. Thấy mẹ, Tràng reo lên như một đứa trẻ, và gọi với vào trong nhà:

 

− U đã về đấy!

 

Hắn lật đật chạy ra đón.

 

– Hôm nay sao u về muộn thế! Làm tôi đợi nóng cả ruột.

 

Bà cụ Tứ nhấp nháy hai con mắt nhìn Tràng, chậm chạp hỏi:

 

– Có việc gì thế vậy?

 

– Thì u hẵng cứ vào trong nhà đã nào.

 

Bà lão phấp phỏng bước theo con vào trong nhà. Đến giữa sân bà lão đứng sững lại, bà lão càng ngạc nhiên hơn. Quái, sao lại có người đàn bà nào ở trong ấy nhỉ ? Người đàn bà nào lại đúng ngay đầu giường thằng con mình thế kia ?

 

Sao lại chào mình bằng u ? Không phải con cái Đực mà. Ai thế nhỉ ? Bà lão hấp háy cặp mắt cho đỡ nhoèn vì tự dưng bà lão thấy mắt mình nhoèn ra thì phải. Bà lão nhìn kĩ người đàn bà lần nữa, vẫn chưa nhận ra người nào. Bà lão quay lại nhìn con tỏ ý không hiểu.

 

Tràng tươi cười:

 

– Thì u hẵng vào ngồi lên giường lên giếc chĩnh chọn cái đã nào.

 

Bà lão lập cập bước vào. Người đàn bà tưởng bà lão già cả, điếc lác, thị cất tiếng chào lần nữa:

 

– U đã về ạ!

 

Ô hay, thế là thế nào nhỉ ? Bà lão băn khoăn ngồi xuống giường. Tràng nhắc mẹ:

 

– Kìa nhà tôi nó chào u.

 

Thấy mẹ vẫn chưa hiểu, hắn bước lại gần nói tiếp :

 

– Nhà tôi nó mới về làm bạn với tôi đấy u ạ ! Chúng tôi phải duyên phải kiếp với nhau… Chẳng qua nó cũng là cái số cả…

 

Bà lão cúi đầu nín lặng. Bà lão hiểu rồi. Lòng người mẹ nghèo khổ ấy còn hiểu ra biết bao nhiều cơ sự, vừa ai oán vừa xót thương cho số kiếp đứa con mình. Chao ôi, người ta dựng vợ gả chồng cho con là lúc trong nhà ăn nên làm nổi, những mong sinh con đẻ cái mở mặt sau này. Còn mình thì… Trong kẽ mắt kèm nhèm của bà rỉ xuống hai dòng nước mắt… Biết rằng chúng nó có nuôi nổi nhau sống qua được con đói khát này không.

 

Bà lão khẽ thở dài ngửng lên, đăm đăm nhìn người đàn bà. Thị cúi mặt xuống, tay vân về tà áo đã rách bợt. Bà lão nhìn thị và bà nghĩ : Người ta có gặp bước khó khăn, đói khố này, người ta mới lấy đến con mình. Mà con mình mới có vợ được… Thôi thì bốn phận bà là mẹ, bà đã chẳng lo lắng được cho con… May ra mà qua khỏi được cái tao đoạn này thì thằng con bà cũng có vợ, nó yên bề nó, chẳng may ra ông giời bắt chết cũng phải chịu chứ biết thế nào mà lo cho hết được ?

 

Bà lão khẽ dặng hắng một tiếng, nhẹ nhàng nói với “nàng dâu mới” :

 

– Ừ, thôi thì các con đã phải duyên phải kiếp với nhau, u cũng mừng lòng…

 

Tràng thở đánh phào một cái, ngực nhẹ hẳn đi. Hắn họ khẽ một tiếng, bước từng bước dài ra sân. Bà cụ Tứ vẫn từ tốn tiếp lời :

 

– Nhà ta thì nghèo con ạ. Vợ chồng chúng mày liệu mà bảo nhau làm ăn. Rồi ra may mà ông giời cho khá… Biết thế nào hở con, ai giàu ba họ, ai khó ba đời ? Có ra thì rồi con cái chúng mày về sau.

 

Bà lão đăm đăm nhìn ra ngoài. Bóng tối trùm lấy hai con mắt. Ngoài xa dòng sông sáng trắng uốn khúc trong cánh đồng tối. Mùi đốt đống rơm ở những nhà có người chết theo gió thoảng vào khét lẹt. Bà lão thở nhẹ ra một hơi dài. Bà lão nghĩ đến ông lão, nghĩ đến đứa con gái út. Bà lão nghĩ đến cuộc đời cực khổ dài dằng dặc của mình. Vợ chồng chúng nó lấy nhau, cuộc đời chúng nó liệu có hơn bố mẹ trước kia không?…

 

– Con ngồi xuống đây. Ngồi xuống đây cho đỡ mỏi chân.

 

Bà lão nhìn người đàn bà, lòng đầy thương xót. Nó bây giờ là dâu là con trong nhà rồi. Người đàn bà khẽ nhúc nhích, thị vẫn khép nép đứng nguyên chỗ cũ. Bà lão hạ thấp giọng xuống thân mật :

 

– Kế có ra làm được dăm ba mâm thì phải đấy, nhưng nhà mình nghèo, cũng chả ai người ta chấp nhặt chi cái lúc này. Cốt làm sao chúng mày hoà thuận là u mừng rồi. Năm nay thì đói to đấy. Chúng mày lấy nhau lúc này, u thương quá…

 

Bà cụ nghẹn lời không nói được nữa, nước mắt cứ chảy xuống ròng ròng.

 

(Lược một đoạn : Cảnh gia đình trước lúc đi ngủ; vợ chồng Tràng sượng sùng chẳng biết nói gì ; có tiếng hờ khóc vẳng đến từ phía những nhà có người chết đói)

 

Sáng hôm sau, mặt trời lên bằng con sào, Tràng mới trở dậy. Trong người êm ái lửng lơ như người vừa ở trong giấc mơ đi ra. Việc hắn có vợ đến hôm nay hắn vẫn còn ngỡ ngàng như không phải.

 

Hắn chắp hai tay sau lưng lững thững bước ra sân. Ánh nắng buổi sáng mùa hè sáng loá xói vào hai con mắt còn cay sẻ của hắn. Hắn chớp chớp liên hồi mấy cái, và bỗng vừa chợt nhận ra, xung quanh mình có cái gì vừa thay đổi mới mẻ, khác lạ. Nhà cửa, sân vườn hôm nay đều được quét tước, thu dọn sạch sẽ gọn gàng. Mấy chiếc quần áo rách như tổ đĩa vẫn vắt khươm mươi niên ở một góc nhà đã thấy đem ra sân hong. Hai cái ang” nước vẫn để khô cong ở dưới gốc ổ đã kín nước đầy ăm ắp. Đống rác mùn tung bành ngay lối đi đã hót sạch.

 

Ngoài vườn người mẹ đang lúi húi giẫy những búi cỏ mọc nham nhở. Vợ hắn quét lại cái sân, tiếng chối từng nhát kêu sàn sạt trên mặt đất. Cảnh tượng thật đơn giản, bình thường nhưng đối với hắn lại rất thấm thía cảm động. Bỗng nhiên hắn thấy hắn thương yêu gắn bó với cái nhà của hắn lạ lùng. Hắn đã có một gia đình. Hắn sẽ cùng vợ sinh con đẻ cái ở đấy. Cái nhà như cái tổ ấm che mưa che nắng. Một nguồn vui sướng, phấn chấn đột ngột tràn ngập trong lòng. Bây giờ hắn mới thấy hắn nên người, hắn thấy hắn có bốn phận phải lo lắng cho vợ con sau này. Hắn xăm xăm chạy ra giữa sân, hắn cũng muốn làm một việc gì để dự phần tu sửa lại căn nhà.

 

Bà cụ Tứ chợt thấy con giai đã dậy, bà lão nhẹ nhàng bảo nàng dâu :

 

– Anh ấy dậy rồi đấy. Con đi dọn cơm ăn chẳng muộn.

 

– Vâng.

 

Người đàn bà lẳng lặng đi vào trong bếp. Tràng nom thị hôm nay khác lắm, rõ ràng là người đàn bà hiển hậu đúng mực không còn vẻ gì chao chát chỏng lỏn như mấy lần Tràng gặp ở ngoài tỉnh. Không biết có phải vì mới làm dâu mà thị tu chí làm ăn không ? Bà mẹ Tràng cũng nhẹ nhõm, tươi tỉnh khác ngày thường, cái mặt bủng beo u ám của bà rạng rỡ hẳn lên. Bà lão xăm xắn thu dọn, quét tước nhà của. Hình như ai nấy đều có ý nghĩ rằng thu xếp cửa nhà cho quang quẻ, nền nếp thì cuộc đời họ có thể khác đi, làm ăn có cơ khấm khá hơn.

 

Bữa cơm ngày đói trông thật thảm hại. Giữa cái mẹt rách có độc một lùm rau chuối thái rối, và một đĩa muối ăn với cháo, nhưng cả nhà đều ăn rất ngon lành. Bà cụ vừa ăn vừa kể chuyện làm ăn, gia cảnh với con dấu. Bà lão nói toàn chuyện vui, toàn chuyện sung sướng về sau này :

 

– Tràng ạ. Khi nào có tiền ta mua lấy đôi gà. Tao tính rằng cái chỗ đầu bếp kia làm cái chuồng gà thì tiện quá. Này ngoảnh đi ngoảnh lại chả mấy mà có ngay đàn gà cho mà xem…

 

Tràng chỉ vâng. Tràng vâng rất ngoan ngoãn. Chưa bao giờ trong nhà này mẹ con lại đầm ấm, hoà hợp như thế. Câu chuyện trong bữa ăn đang đà vui bỗng ngừng lại. Niêu cháo lõng bõng, mỗi người được có lưng lưng hai bát đã hết nhẵn.

 

Bà lão đặt đũa bát xuống, nhìn hai con vui vẻ :

 

– Chúng mày đợi u nhá. Tao có cái này hay lắm cơ.

 

Bà lão lật đật chạy xuống bếp, lễ mễ bung ra một cái nồi khói bốc lên nghi

 

ngút. Bà lão đặt cái nồi xuống bên cạnh mẹt cơm, cầm cái mới vừa khuấy

 

khuấy vừa cười :

 

– Chè đây. – Bà lão múc ra một bát – Chè khoán đây, ngon đáo để cơ.

 

Người con dâu đón lấy cái bát, đưa lên mắt nhìn, hai con mắt thị tối lại. Thị điềm nhiên và vào miệng. Tràng cầm cái bát thứ hai mẹ đưa cho, người mẹ vẫn tươi cười, đon đả:

 

– Cám đấy mày ạ, hì. Ngon đáo để, cứ thủ ăn mà xem. Xóm ta khối nhà còn chả có cám mà ăn đấy.

 

Tràng cầm đôi đũa, gợt một miếng bỏ vội vào miệng. Mặt hắn chun ngay lại, miếng cám đắng chát và nghẹn bứ trong cổ. Bữa cơm từ đấy không ai nói câu gì, họ cắm đầu ăn cho xong lần, họ tránh nhìn mặt nhau. Một nỗi tủi hờn len vào tâm trí mọi người.

 

Ngoài đình bỗng dội lên một hỏi trống, dồn dập, vội vã. Đàn quạ trên những cây gạo cao chót vót ngoài bãi chợ hốt hoảng bay vù lên, lượn thành từng đám bay vẩn trên nền trời như những đám mây đen.

 

Người con dâu khẽ thở dài, thị nói lí nhí trong miệng :

 

– Trống gì đấy, u nhỉ?

 

– Trống thúc thuế đấy. Đằng thì nó bắt giồng đay, đằng thì nó bắt đóng thuế. Giời đất này không chắc đã sống qua được đầu các con ạ… – Bà lão ngoảnh vội ra ngoài. Bà lão không dám để con dâu nhìn thấy bà khóc.

 

Người con dâu có vẻ lạ lắm, thị lẩm bẩm:

 

– Ở đây vẫn phải đóng thuế cơ à ?

 

Im lặng một lúc thị lại tiếp :

 

– Trên mạn Thái Nguyên, Bắc Giang người ta không chịu đóng thuế nữa đâu. Người ta còn phá cả kho thóc của Nhật, chia cho người đói nữa đấy.

 

Tràng thần mặt ra nghĩ ngợi. Cái mặt to lớn bặm lại, khó đăm đăm. Miếng cám ngậm trong miệng hắn đã bã ra chát xít… Hắn đang nghĩ đến những người phá kho thóc Nhật.

 

Tràng hỏi vội trong miếng ăn :

 

– Việt Minh phải không?

 

– Ừ, sao nhà biết ?

 

Tràng không trả lời. Trong ý nghĩ của hắn vụt hiện ra cảnh những người nghèo đói ầm ầm kéo nhau đi trên đê Sộp. Đằng trước có lá cờ đỏ to lắm. Hôm ấy hắn láng máng nghe người ta nói họ là Việt Minh đấy. Họ đi cướp thóc đấy. Tràng không hiểu gì sợ quá, kéo vội xe thóc của Liên đoàn tắt cánh đồng đi lối khác.

 

À ra họ đi phá kho thóc chia cho người đói. Tự dung hắn thấy ân hận, tiếc rẻ vẩn vơ, khó hiểu.

 

Ngoài đình tiếng trống thúc thuế vẫn dồn dập. Mẹ và vợ Tràng đã buông đũa đứng dậy.

 

Trong óc Tràng vẫn thấy đám người đói và lá cờ đỏ bay phấp phới…

 

(Truyện ngắn Việt Nam 1945 – 1985, NXB Giáo dục, 1985)

PHÂN TÍCH:

 Có những tác phẩm không chỉ phản ánh hiện thực mà còn gìn giữ niềm tin vào con người. Giữa bóng tối dày đặc của đau thương, văn chương vẫn âm thầm thắp lên một ngọn lửa, để người đọc nhận ra rằng: khi mọi giá trị vật chất có thể bị cái đói hủy diệt thì tình người vẫn là điều cuối cùng còn ở lại. Chính từ nơi tưởng chừng không còn hy vọng ấy, khát vọng sống và khát vọng hạnh phúc lại bền bỉ vươn lên như mầm cây xuyên qua lớp đất khô cằn. “Vợ nhặt” của Kim Lân là một bản tình ca như thế, một bản tình ca về lòng nhân ái, về sức sống của con người Việt Nam trong những tháng ngày đen tối nhất của lịch sử.

 Kim Lân là cây bút xuất sắc của nền văn học hiện đại Việt Nam, chuyên viết về người nông dân và cuộc sống làng quê bằng tất cả sự am hiểu, gắn bó và yêu thương. Ông không đi tìm vẻ đẹp ở những con người phi thường mà phát hiện phẩm chất cao quý ngay trong những số phận bình dị nhất. Truyện ngắn “Vợ nhặt” được viết dựa trên tiểu thuyết Xóm ngụ cư, hoàn thành sau Cách mạng tháng Tám nhưng lấy bối cảnh nạn đói năm 1945, thảm họa khiến hơn hai triệu đồng bào chết đói. Tác phẩm không chỉ là bức tranh hiện thực đau thương mà còn là bản anh hùng ca lặng lẽ ca ngợi tình người, niềm tin và ánh sáng của cách mạng đang dần lóe lên từ trong bóng tối.

 Ngay từ những dòng đầu, Kim Lân đã dựng lên một bức tranh hiện thực đầy ám ảnh về nạn đói năm 1945. Không gian xóm ngụ cư bị bao trùm bởi màu sắc tang tóc: “xanh xám như những bóng ma”, “người chết như ngả rạ”, “mùi gây của xác người”… Hàng loạt hình ảnh, âm thanh và mùi vị hòa quyện tạo nên cảm giác ngột ngạt đến rợn người. Người chết không còn là điều bất thường mà trở thành cảnh tượng quen thuộc mỗi sáng. Cái đói hiện lên như một thế lực vô hình nhưng khủng khiếp, tước đoạt sinh mạng, phẩm giá và cả hy vọng của con người. Đó không đơn thuần là bức tranh thiên tai mà còn là bản cáo trạng đanh thép tố cáo tội ác của phát xít Nhật và thực dân Pháp đã đẩy nhân dân Việt Nam vào thảm cảnh diệt chủng.

 Chính trên cái nền hiện thực u ám ấy, sự xuất hiện của Tràng cùng người “vợ nhặt” tạo nên một nghịch lí đầy nghệ thuật. Người ta lấy vợ khi cuộc sống đủ đầy, còn Tràng lại lấy vợ giữa lúc “người chết như ngả rạ”. Hai chữ “nhặt vợ” vừa gợi sự rẻ rúng của thân phận con người vừa gợi lên sự xót xa đến tận cùng. Một con người lại có thể trở thành “đồ nhặt” giữa chợ đời chỉ vì vài bát bánh đúc. Đằng sau nghịch lí ấy là cả một bi kịch nhân sinh: cái đói đã đẩy con người đến ranh giới cuối cùng của phẩm giá. Nhưng cũng chính từ nghịch lí ấy, Kim Lân mở ra một chân lí đẹp đẽ: trong hoàn cảnh khốc liệt nhất, con người vẫn không thôi hướng về mái ấm gia đình và khát vọng được sống.

 Tràng là nhân vật trung tâm của tác phẩm, một người nông dân nghèo, xấu xí, thô kệch, lại sống nơi xóm ngụ cư, tầng lớp thấp kém nhất trong xã hội lúc bấy giờ. Thế nhưng, đằng sau vẻ ngoài cục mịch ấy là một tâm hồn giàu yêu thương. Quyết định đưa người đàn bà xa lạ về làm vợ thoạt nhìn có vẻ bồng bột, nhưng thực chất xuất phát từ lòng trắc ẩn. Giữa lúc bản thân còn chưa biết có sống nổi qua ngày, Tràng vẫn sẵn sàng chia sẻ miếng ăn với một người sắp chết đói. Cái “tặc lưỡi” của Tràng không phải sự liều lĩnh vô trách nhiệm mà là khoảnh khắc bản năng nhân đạo chiến thắng nỗi sợ hãi.

 Đặc biệt, Kim Lân đã miêu tả rất tinh tế sự thay đổi trong tâm lí của Tràng. Trên đường đưa vợ về, anh “tủm tỉm cười”, “hai mắt sáng lên lấp lánh”, “cái mặt cứ vênh lên tự đắc”. Niềm hạnh phúc ấy thật mộc mạc nhưng vô cùng cảm động. Đó là niềm vui của một người lần đầu tiên được cảm nhận mình có một mái ấm, có một người để yêu thương và gắn bó. Khi về đến nhà, Tràng lại bỗng “sờ sợ”, “lấm lét”, liên tục chạy ra ngóng mẹ. Sự hồi hộp ấy cho thấy anh ý thức được trách nhiệm của một người chồng. Và sáng hôm sau, sự trưởng thành trong Tràng hiện lên rõ nét hơn bao giờ hết. Anh thấy yêu ngôi nhà của mình, thấy mình “đã nên người”, thấy có bổn phận phải lo cho vợ con. Chỉ sau một đêm, một người đàn ông vô tư, cẩu thả đã trở thành trụ cột của gia đình. Tình yêu và hạnh phúc đã đánh thức phần người đẹp đẽ vốn ngủ quên trong anh.

 Nếu Tràng là biểu tượng của lòng nhân hậu thì người vợ nhặt lại là hiện thân cho số phận bi thương của người nông dân trong nạn đói. Lần đầu xuất hiện, thị hiện lên với dáng vẻ “rách như tổ đỉa”, “gầy sọp”, “khuôn mặt lưỡi cày xám xịt”. Chỉ vì bốn bát bánh đúc, thị sẵn sàng theo không một người đàn ông xa lạ. Hành động ấy không đáng trách mà chỉ khiến người đọc nghẹn lòng. Cái đói đã đẩy con người đến bước đường cùng, khiến họ phải đánh đổi cả cuộc đời để giành lấy cơ hội sống mong manh.

 Tuy nhiên, Kim Lân không dừng lại ở việc khắc họa sự đáng thương mà còn khám phá vẻ đẹp của nhân vật. Khi bước vào ngôi nhà của Tràng, thị “ngượng nghịu”, “rón rén”, “khép nép”, rồi lặng lẽ cùng mẹ chồng dọn dẹp nhà cửa. Thị không còn vẻ “chao chát”, “chỏng lỏn” lúc ngoài chợ mà trở thành người phụ nữ hiền hậu, đảm đang. Chính mái ấm gia đình đã khơi dậy thiên chức của người phụ nữ, giúp thị lấy lại phẩm giá vốn có. Kim Lân như muốn khẳng định: con người không sinh ra để sống trong sự tha hóa; chỉ cần được yêu thương, họ sẽ trở về với bản chất tốt đẹp của mình.

 Cảm động nhất trong tác phẩm chính là hình tượng bà cụ Tứ – người mẹ nghèo mang trái tim giàu yêu thương. Diễn biến tâm lí của bà được Kim Lân miêu tả vô cùng tinh tế. Từ ngạc nhiên, băn khoăn đến thấu hiểu rồi xót xa, thương con, thương dâu và thương cho chính số phận mình. Những dòng nước mắt của bà không chỉ vì nghèo khó mà còn vì thương đứa con trai lấy vợ trong lúc đói kém. Bà hiểu rằng chỉ vì bị dồn đến bước đường cùng, người đàn bà ấy mới chấp nhận làm dâu nhà mình.

 Điều khiến người đọc xúc động hơn cả là cách bà đón nhận nàng dâu mới. Không một lời trách móc, không một chút nghi ngại, bà chỉ nhẹ nhàng nói: “Ừ, thôi thì các con đã phải duyên phải kiếp với nhau, u cũng mừng lòng…”. Đó là lời chấp nhận đầy bao dung của một người mẹ. Bà không có của cải để cho con, chỉ có thể trao đi tình thương và niềm hy vọng. Trong bữa cơm ngày đói, bà cố tình kể toàn chuyện vui, chuyện nuôi gà, chuyện tương lai để gieo vào lòng các con niềm tin sống. Chính bà là người giữ lửa cho mái ấm nhỏ giữa cơn bão đói khát.

 Chi tiết nồi cháo cám là một trong những sáng tạo đặc sắc nhất của Kim Lân. Cháo cám vốn là món ăn của sự cùng cực, đắng chát và nghẹn đắng như chính số phận con người. Nhưng bà cụ Tứ vẫn vui vẻ gọi đó là “chè khoán”. Nụ cười ấy khiến người đọc nghẹn ngào. Đó là nụ cười che giấu nước mắt, là nỗ lực cuối cùng của một người mẹ muốn giữ lại chút niềm vui cho các con. Bữa cơm ấy nghèo đến tận cùng nhưng lại giàu yêu thương hơn bất cứ mâm cao cỗ đầy nào.

 Giá trị nhân đạo của tác phẩm còn được thể hiện sâu sắc ở đoạn kết. Khi tiếng trống thúc thuế vang lên, người vợ nhặt kể chuyện người dân Thái Nguyên, Bắc Giang phá kho thóc Nhật chia cho người đói. Trong tâm trí Tràng hiện lên hình ảnh lá cờ đỏ bay phấp phới. Chi tiết ấy mang ý nghĩa biểu tượng vô cùng lớn. Nếu mở đầu truyện là bóng tối của cái đói thì kết thúc truyện là ánh sáng của cách mạng. Nhà văn không khép lại tác phẩm bằng cái chết mà bằng niềm hy vọng. Đó là sự vận động đầy ý nghĩa từ bóng tối đến ánh sáng, từ bế tắc đến con đường giải phóng dân tộc. Hình ảnh lá cờ đỏ không chỉ mở ra tương lai cho gia đình Tràng mà còn mở ra con đường sống cho hàng triệu người nông dân Việt Nam.

 Thành công của “Vợ nhặt” còn đến từ nghệ thuật xây dựng tình huống truyện độc đáo, vừa nghịch lí vừa giàu sức khái quát. Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật đạt đến độ tinh tế với những biến chuyển rất tự nhiên. Ngôn ngữ đậm chất đời thường, mang hơi thở của làng quê Bắc Bộ, kết hợp giữa hiện thực sắc lạnh và cảm hứng nhân đạo ấm áp đã tạo nên sức sống lâu bền cho tác phẩm. Kim Lân không chỉ kể một câu chuyện mà còn gửi gắm một triết lí nhân sinh sâu sắc: con người có thể nghèo đói nhưng không bao giờ mất đi khả năng yêu thương và hy vọng.

 “Vợ nhặt” khép lại nhưng dư âm vẫn còn ngân mãi. Giữa ranh giới mong manh của sự sống và cái chết, Kim Lân không lựa chọn miêu tả sự tuyệt vọng mà hướng ngòi bút về ánh sáng của tình người. Từ một cuộc hôn nhân được “nhặt” giữa chợ đói, nhà văn đã dựng nên bản trường ca cảm động về khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc và niềm tin vào tương lai. Giá trị lớn nhất của tác phẩm không nằm ở việc phản ánh nạn đói năm 1945 mà ở chỗ khẳng định một chân lí bền vững: khi con người còn biết yêu thương nhau thì sự sống vẫn luôn có cơ hội nảy mầm, ngay cả trên mảnh đất khô cằn nhất của đau thương.

 

Khóa học ngữ văn

Xem chi tiết
Xem chi tiết
Xem chi tiết
Xem chi tiết
Xem chi tiết
Xem chi tiết
Xem chi tiết