Học văn Cô Diệu Thu giới thiệu bài phân tích truyện “Dế chọi” của Bồ Tùng Linh, một tác phẩm tiêu biểu cho nghệ thuật kết hợp giữa hiện thực và kì ảo trong Liêu trai chí dị. Từ câu chuyện về một con dế nhỏ bé nhưng phi thường, nhà văn đã tái hiện số phận đầy cay đắng của gia đình Thành dưới sức ép của cường quyền, đồng thời phơi bày những bất công của xã hội phong kiến. Qua đó, tác phẩm không chỉ cất lên tiếng nói thương cảm đối với người dân lương thiện mà còn gửi gắm khát vọng về công lí, hạnh phúc và một cuộc sống nơi con người được trân trọng đúng với giá trị của mình.

VĂN BẢN:
Đời Tuyên Đức nhà Minh, trong cung rất chuộng trò chọi dế, hàng năm bắt dân gian dâng nộp. Vật này không phải sản ở Thiểm Tây nhưng Tri huyện Hoa Âm (tỉnh Thiểm Tây) muốn lấy lòng quan trên đem hiến một con, quan tỉnh cho chọi thử thấy hay bèn đòi dâng nộp thường xuyên. Tri huyện lại đòi lý trưởng phải cung ứng, bọn du thủ du thực ở chợ tìm bắt được con nào hay là nhốt vào lồng nuôi, coi như món hàng quý. Còn bọn lý dịch giảo hoạt lấy lệ dâng nộp dế để sách nhiễu dân chúng, mỗi con nộp lên đủ làm mấy nhà khuynh gia bại sản.
Trong huyện có Thành đã dự khoa Đồng tử nhưng lâu không thi đỗ, tính chất phác nên bị bọn lý dịch gian giảo ép làm chức lý chính, tìm đủ cách chối từ mà không được, chưa đầy một năm thì chút ít gia sản đã cạn kiệt. Gặp kì nộp dế, Thành không dám sách nhiễu dân nhưng không có gì để bù, lo buồn chỉ muốn chết. Vợ nói “Chết thì có ích gì, chẳng bằng cứ tự tìm bắt, biết đâu cũng được một con”. Thành cho là phải. Bèn sáng đi tối về, cầm ống trúc lồng tơ bới đất lật đá khắp bãi hoang tường đổ, làm đủ cách mà không được, có bắt được hai ba con thì nhỏ yếu không đủ quy cách. Quan trên theo hạn trách phạt, qua hơn mười ngày Thành đã bị đánh trăm trượng, hai mông máu me bê bết, ngay cả sâu con cũng không sao đi mà bắt nữa, trăn trở trên giường chỉ nghĩ tới việc tự tử.
Lúc ấy trong thôn có bà đồng gù lưng tới, bởi toán như thần. Vợ Thành đem tiền lễ tới, thấy gái non bà già đứng chật cổng ngõ. Vào trong nhà thì có phỏng kín buông rèm, ngoài rèm bày hương án, người tới bởi thắp hương trong định rồi vái lạy, bà đồng đứng bên hướng lên không khẩn khứa, môi mấp máy không biết là nói gì, ai cũng kính cẩn đứng chờ. Lát sau trong rèm ném ra tờ giấy ghi rõ về việc người ấy muốn hỏi, không sai chút nào. Vợ Thành đặt tiền lễ lên án rồi thắp hương vái lạy như những người trước, khoảng ăn xong bữa cơm thì tấm rèm lay động, mảnh giấy ném ra. Giở ra xem không phải là chữ mà là bức vẽ, trong vẽ điện gác là chùa chiền, phía sau có hòn núi nhỏ đầy những tảng đá hình thù kỳ quái, gai góc tua tủa, có con để nằm dưới, bên cạnh có con ếch như sắp nhảy lên, mở xem không hiểu nhưng thấy có con dế ám hợp với việc mình cầu khấn nên cất vào người đem về đưa Thành xem.
Thành giở đi giở lại, nghĩ “Hay là bức vẽ này chỉ ta chỗ bắt để chăng?”. Nhìn kĩ quang cảnh trong đó thấy rất giống gác Đại Phật ở phía đông thôn, bèn gượng dậy chống gậy cầm bức vẽ tới sau chùa. Ở đó có ngôi mộ cổ, lần quanh thấy đá nằm ngổn ngang đúng như trong bức vẽ, bèn dò dẫm trong đám cây cỏ lắng nghe như tìm mũi kim hạt cải, bao nhiêu tâm trí sức mắt sức tại đều dốc ra hết nhưng không thấy gì cả. Đang còn tìm kiếm thì chợt có một con ếch nhảy ra, Thành càng ngạc nhiên vội đuổi theo. Con ếch nhảy vào đám cỏ, Thành theo vết vạch cỏ tìm thì thấy một con dế núp dưới gốc cây gai, vội chụp lấy thì nó chui vào kẽ đá, lấy cọng cỏ chọc vào nó vẫn nằm ì ra đó, đem ổng đổ nước vào mới chịu chui ra, dáng vẻ rất khoẻ mạnh, Thành đuổi theo về được. Nhìn kĩ thấy nó mình to đuôi đài, cổ xanh cánh vàng, mừng quá nhốt vào lồng mang nhà vui mừng, dù là được ngọc báu lýên thành cũng không bằng. Rồi thả nó vào chậu nuôi, cho ăn chu đáo, gìn giữ nâng niu chờ tới kỉ hạn nộp quan.
Thành có đứa con trai chín tuổi rình lúc cha không có nhà lén mở chậu ra xem. Con để thừa cơ nhảy ra, nó đuổi theo mãi không được, đến khi chụp được vào tay thì để đã gãy cẳng vỡ bụng, lát sau thì chết. Đứa nhỏ sợ quá khóc lóc tới kể với mẹ, mẹ nó nghe thế mặt tái mét, hoảng sợ nói “Đồ oan nghiệt hết sống rồi, cha ngươi về sẽ nói chuyện với ngươi”, đứa nhỏ khóc lóc bỏ đi. Lát sau Thành về, nghe vợ kể lại như bị dội băng tuyết lên người, nổi giận đi tìm con nhưng không thấy đâu, kế) tìm thấy xác con dưới giếng, đổi giận thành thương gào khóc muốn tắt hơi. Vợ chồng quay mặt vào vách, nhà tranh không khói lửa nấu cơm, im lặng nhìn nhau không còn hy vọng gì nữa. Trời gần tối lýệm xác con, tới bế lên thì thấy còn thoi thóp thở, cả mừng bế đặt lên giường, nửa đêm thì đứa nhỏ sống lại. Hai vợ chồng hơi nhẹ lòng, nhưng đứa nhỏ thần thái ngây ngốc như người gỗ, cứ ngủ mê mệt. Thành nhìn tới lồng để rỗng không thì đứt hơi nghẹn cổ, cũng không nghĩ gì tới con nữa, từ đêm đến sáng không sao chợp mắt, trời đã sáng rõ vẫn nằm đờ buồn bã.
Bỗng nghe tiếng dế gáy ngoài cửa, Thành giật mình vùng dậy nhìn thì dế vẫn còn sờ sờ, mừng rỡ chụp lấy. Con để kêu to một tiếng nhảy đi, Thành đuổi mau theo lấy bàn tay chụp lên thì thấy trống không như không có gì, giờ tay lên thì nó lại nhảy vọt lên. Thành đuổi mau theo tới góc tường thì không thấy đâu, ngơ ngẩn nhìn quanh thấy nó đậu trên vách, nhìn lại thấy vừa nhỏ vừa ngắn mà màu tía, không phải là con trước, cho là loại dở nhưng vẫn quanh quẩn nhìn ngó. Chợt con dễ từ vách nhảy xuống tay áo, Thành ngắm kĩ thấy hình dáng như con chó, cánh hoa mai, đầu vuông chân dài, có vẻ như đế hay, bèn mừng giữ lại. Định đem lên nộp quan nhưng thấp thỏm lo không vừa ý quan, bèn nghĩ cho chọi thử xem sao.
Trong thôn có gã thiếu niên hiểu sự nuôi một con dế, nói là loại “giải xác thanh” (để xanh vỏ cua), hàng ngày đem chọi với dế của bạn bè đều thắng, muốn giữ để kiếm lợi, ai trả giá cao cũng không chịu bán. Nhân qua thăm Thành thấy con dế Thành nuôi, y bịt miệng ôm bụng cười, đưa dế của mình ra, bỏ vào lồng chọi. Thành nhìn thấy nó to lớn khỏe mạnh càng thêm xấu hổ, không dám cho chọi thử. Thiếu niên cố ép, Thành nghĩ nuôi dế dỡ rốt lại cũng vô dụng, chi bằng cử cho chọi thử mua vui, bèn cho dế vào lồng chọi. Con dế nhỏ nằm mọp xuống không động đậy, ngơ ngơ như gà gỗ. Thiếu niên lại cười rộ, lấy lông heo chọc vào râu, nó vẫn nằm im, thiếu niên lại cười, lại chọc. Con dế nổi giận xông thẳng ra, lúc sắp đánh thì phùng cánh gáy lớn, rồi vểnh râu cong đuôi nhảy xổ tới cắn cổ địch thủ. Thiếu niên cả sợ vội gạt hai con để ra không cho chọi nữa, con để hiện ngang gáy vang như báo cho chủ biết nó đã thắng trận. Thành mừng quá, đang cùng nhau ngắm nghía chợt có con gà sấn sổ xông tới mổ luôn một nhát vào dế. Thành kinh hãi bật dậy la hoảng, may là gà mổ không trúng, con để nhảy ra hơn một thước.
Gà sấn theo mổ lýa lýa, con dế đã nằm dưới mỏng gà, Thành thảng thốt không biết làm sao cứu, dẫm chân tái mặt. Nhưng gà lại rướn cổ lăn ra, tới gần nhìn thì thấy để đã trên mào gà, cắn chặt không buông. Thành càng kinh ngạc mừng rỡ, vội bắt để bỏ vào lồng.
Hôm sau đem dâng tri huyện, quan thấy đế nhỏ quát Thành Thành kể lại chuyện lạ, quan không tin, cho chọi thử với dế của người khác đều thắng, lại đem gà ra thử thì quả như lời Thành nói. Tri huyện bèn thưởng cho Thành, hiến dế cho tuần phủ. Tuần phủ cả mừng lýền cho dế vào lồng vàng hiến vua, dâng sớ tâu rõ cái hay của nó. Vào tới cung cho chọi thử với đủ thứ để kỉ lạ của các nơi dâng lên như hồ điệp (để bướm), đường lang (dế bọ ngựa), du lợi đạt (để đánh dầu), thanh ti đầu (để trán tơ xanh) thì con nào cũng thua. Mỗi khi nghe tiếng đàn sáo thì nó lại nhảy nhót theo điệu nhạc, mọi người càng lấy làm lạ. Vua rất vừa lòng, ban chiếu thưởng cho tuần phủ ngựa hay vải quý. Tuần phủ không quên kẻ hiến đế, không bao lâu tâu xin thưởng cho tri huyện một cấp trác dị. Tri huyện mừng, cho Thành được miễn sai dịch, dặn học quan cho Thành đỗ tú tài. Hơn năm sau con Thành bình phục, kể rằng mình hóa thành dế, khỏe mạnh chọi giỏi, nay mới sống lại. Quan tỉnh lại trọng thưởng, không quá vài năm nhà Thành ruộng vườn trăm khoảnh, lầu gác nguy nga, trâu dê cả ngàn con, ra khỏi nhà thì mặc áo cừu cưỡi ngựa tốt, giàu sang hơn cả các nhà thế gia.
Dị Sử thị nói:
Họ Thành vì sâu mọt mà nghèo, nhờ dế chọi mà giàu, áo cừu ngựa tốt vênh vang, lúc làm lý chính bị trách phạt chắc không nghĩ rằng mình được thế đâu. Trời đền đáp cho kẻ trưởng giả trọng hậu, tới nỗi tuần phủ tri huyện cũng được hưởng phúc ấm nhờ con dế. Thường nghe một người lên trời, gà chó cũng thành tiên, đúng lắm thay!
Đời Tuyên Đức nhà Minh, trong cung rất chuộng trò chọi dế, hàng năm bắt dân gian dâng nộp. Vật này không phải sản ở Thiểm Tây nhưng Tri huyện Hoa Âm (tỉnh Thiểm Tây) muốn lấy lòng quan trên đem hiến một con, quan tỉnh cho chọi thử thấy hay bèn đòi dâng nộp thường xuyên. Tri huyện lại đòi lý trưởng phải cung ứng, bọn du thủ du thực ở chợ tìm bắt được con nào hay là nhốt vào lồng nuôi, coi như món hàng quý. Còn bọn lý dịch giảo hoạt lấy lệ dâng nộp dế để sách nhiễu dân chúng, mỗi con nộp lên đủ làm mấy nhà khuynh gia bại sản.
Trong huyện có Thành đã dự khoa Đồng tử nhưng lâu không thi đỗ, tính chất phác nên bị bọn lý dịch gian giảo ép làm chức lý chính, tìm đủ cách chối từ mà không được, chưa đầy một năm thì chút ít gia sản đã cạn kiệt. Gặp kì nộp dế, Thành không dám sách nhiễu dân nhưng không có gì để bù, lo buồn chỉ muốn chết. Vợ nói “Chết thì có ích gì, chẳng bằng cứ tự tìm bắt, biết đâu cũng được một con”. Thành cho là phải. Bèn sáng đi tối về, cầm ống trúc lồng tơ bới đất lật đá khắp bãi hoang tường đổ, làm đủ cách mà không được, có bắt được hai ba con thì nhỏ yếu không đủ quy cách. Quan trên theo hạn trách phạt, qua hơn mười ngày Thành đã bị đánh trăm trượng, hai mông máu me bê bết, ngay cả sâu con cũng không sao đi mà bắt nữa, trăn trở trên giường chỉ nghĩ tới việc tự tử.
Lúc ấy trong thôn có bà đồng gù lưng tới, bởi toán như thần. Vợ Thành đem tiền lễ tới, thấy gái non bà già đứng chật cổng ngõ. Vào trong nhà thì có phỏng kín buông rèm, ngoài rèm bày hương án, người tới bởi thắp hương trong định rồi vái lạy, bà đồng đứng bên hướng lên không khẩn khứa, môi mấp máy không biết là nói gì, ai cũng kính cẩn đứng chờ. Lát sau trong rèm ném ra tờ giấy ghi rõ về việc người ấy muốn hỏi, không sai chút nào. Vợ Thành đặt tiền lễ lên án rồi thắp hương vái lạy như những người trước, khoảng ăn xong bữa cơm thì tấm rèm lay động, mảnh giấy ném ra. Giở ra xem không phải là chữ mà là bức vẽ, trong vẽ điện gác là chùa chiền, phía sau có hòn núi nhỏ đầy những tảng đá hình thù kỳ quái, gai góc tua tủa, có con để nằm dưới, bên cạnh có con ếch như sắp nhảy lên, mở xem không hiểu nhưng thấy có con dế ám hợp với việc mình cầu khấn nên cất vào người đem về đưa Thành xem.
Thành giở đi giở lại, nghĩ “Hay là bức vẽ này chỉ ta chỗ bắt để chăng?”. Nhìn kĩ quang cảnh trong đó thấy rất giống gác Đại Phật ở phía đông thôn, bèn gượng dậy chống gậy cầm bức vẽ tới sau chùa. Ở đó có ngôi mộ cổ, lần quanh thấy đá nằm ngổn ngang đúng như trong bức vẽ, bèn dò dẫm trong đám cây cỏ lắng nghe như tìm mũi kim hạt cải, bao nhiêu tâm trí sức mắt sức tại đều dốc ra hết nhưng không thấy gì cả. Đang còn tìm kiếm thì chợt có một con ếch nhảy ra, Thành càng ngạc nhiên vội đuổi theo. Con ếch nhảy vào đám cỏ, Thành theo vết vạch cỏ tìm thì thấy một con dế núp dưới gốc cây gai, vội chụp lấy thì nó chui vào kẽ đá, lấy cọng cỏ chọc vào nó vẫn nằm ì ra đó, đem ổng đổ nước vào mới chịu chui ra, dáng vẻ rất khoẻ mạnh, Thành đuổi theo về được. Nhìn kĩ thấy nó mình to đuôi đài, cổ xanh cánh vàng, mừng quá nhốt vào lồng mang nhà vui mừng, dù là được ngọc báu lýên thành cũng không bằng. Rồi thả nó vào chậu nuôi, cho ăn chu đáo, gìn giữ nâng niu chờ tới kỉ hạn nộp quan.
Thành có đứa con trai chín tuổi rình lúc cha không có nhà lén mở chậu ra xem. Con để thừa cơ nhảy ra, nó đuổi theo mãi không được, đến khi chụp được vào tay thì để đã gãy cẳng vỡ bụng, lát sau thì chết. Đứa nhỏ sợ quá khóc lóc tới kể với mẹ, mẹ nó nghe thế mặt tái mét, hoảng sợ nói “Đồ oan nghiệt hết sống rồi, cha ngươi về sẽ nói chuyện với ngươi”, đứa nhỏ khóc lóc bỏ đi. Lát sau Thành về, nghe vợ kể lại như bị dội băng tuyết lên người, nổi giận đi tìm con nhưng không thấy đâu, kế) tìm thấy xác con dưới giếng, đổi giận thành thương gào khóc muốn tắt hơi. Vợ chồng quay mặt vào vách, nhà tranh không khói lửa nấu cơm, im lặng nhìn nhau không còn hy vọng gì nữa. Trời gần tối lýệm xác con, tới bế lên thì thấy còn thoi thóp thở, cả mừng bế đặt lên giường, nửa đêm thì đứa nhỏ sống lại. Hai vợ chồng hơi nhẹ lòng, nhưng đứa nhỏ thần thái ngây ngốc như người gỗ, cứ ngủ mê mệt. Thành nhìn tới lồng để rỗng không thì đứt hơi nghẹn cổ, cũng không nghĩ gì tới con nữa, từ đêm đến sáng không sao chợp mắt, trời đã sáng rõ vẫn nằm đờ buồn bã.
Bỗng nghe tiếng dế gáy ngoài cửa, Thành giật mình vùng dậy nhìn thì dế vẫn còn sờ sờ, mừng rỡ chụp lấy. Con để kêu to một tiếng nhảy đi, Thành đuổi mau theo lấy bàn tay chụp lên thì thấy trống không như không có gì, giờ tay lên thì nó lại nhảy vọt lên. Thành đuổi mau theo tới góc tường thì không thấy đâu, ngơ ngẩn nhìn quanh thấy nó đậu trên vách, nhìn lại thấy vừa nhỏ vừa ngắn mà màu tía, không phải là con trước, cho là loại dở nhưng vẫn quanh quẩn nhìn ngó. Chợt con dễ từ vách nhảy xuống tay áo, Thành ngắm kĩ thấy hình dáng như con chó, cánh hoa mai, đầu vuông chân dài, có vẻ như đế hay, bèn mừng giữ lại. Định đem lên nộp quan nhưng thấp thỏm lo không vừa ý quan, bèn nghĩ cho chọi thử xem sao.
Trong thôn có gã thiếu niên hiểu sự nuôi một con dế, nói là loại “giải xác thanh” (để xanh vỏ cua), hàng ngày đem chọi với dế của bạn bè đều thắng, muốn giữ để kiếm lợi, ai trả giá cao cũng không chịu bán. Nhân qua thăm Thành thấy con dế Thành nuôi, y bịt miệng ôm bụng cười, đưa dế của mình ra, bỏ vào lồng chọi. Thành nhìn thấy nó to lớn khỏe mạnh càng thêm xấu hổ, không dám cho chọi thử. Thiếu niên cố ép, Thành nghĩ nuôi dế dỡ rốt lại cũng vô dụng, chi bằng cử cho chọi thử mua vui, bèn cho dế vào lồng chọi. Con dế nhỏ nằm mọp xuống không động đậy, ngơ ngơ như gà gỗ. Thiếu niên lại cười rộ, lấy lông heo chọc vào râu, nó vẫn nằm im, thiếu niên lại cười, lại chọc. Con dế nổi giận xông thẳng ra, lúc sắp đánh thì phùng cánh gáy lớn, rồi vểnh râu cong đuôi nhảy xổ tới cắn cổ địch thủ. Thiếu niên cả sợ vội gạt hai con để ra không cho chọi nữa, con để hiện ngang gáy vang như báo cho chủ biết nó đã thắng trận. Thành mừng quá, đang cùng nhau ngắm nghía chợt có con gà sấn sổ xông tới mổ luôn một nhát vào dế. Thành kinh hãi bật dậy la hoảng, may là gà mổ không trúng, con để nhảy ra hơn một thước.
Gà sấn theo mổ lýa lýa, con dế đã nằm dưới mỏng gà, Thành thảng thốt không biết làm sao cứu, dẫm chân tái mặt. Nhưng gà lại rướn cổ lăn ra, tới gần nhìn thì thấy để đã trên mào gà, cắn chặt không buông. Thành càng kinh ngạc mừng rỡ, vội bắt để bỏ vào lồng.
Hôm sau đem dâng tri huyện, quan thấy đế nhỏ quát Thành Thành kể lại chuyện lạ, quan không tin, cho chọi thử với dế của người khác đều thắng, lại đem gà ra thử thì quả như lời Thành nói. Tri huyện bèn thưởng cho Thành, hiến dế cho tuần phủ. Tuần phủ cả mừng lýền cho dế vào lồng vàng hiến vua, dâng sớ tâu rõ cái hay của nó. Vào tới cung cho chọi thử với đủ thứ để kỉ lạ của các nơi dâng lên như hồ điệp (để bướm), đường lang (dế bọ ngựa), du lợi đạt (để đánh dầu), thanh ti đầu (để trán tơ xanh) thì con nào cũng thua. Mỗi khi nghe tiếng đàn sáo thì nó lại nhảy nhót theo điệu nhạc, mọi người càng lấy làm lạ. Vua rất vừa lòng, ban chiếu thưởng cho tuần phủ ngựa hay vải quý. Tuần phủ không quên kẻ hiến đế, không bao lâu tâu xin thưởng cho tri huyện một cấp trác dị. Tri huyện mừng, cho Thành được miễn sai dịch, dặn học quan cho Thành đỗ tú tài. Hơn năm sau con Thành bình phục, kể rằng mình hóa thành dế, khỏe mạnh chọi giỏi, nay mới sống lại. Quan tỉnh lại trọng thưởng, không quá vài năm nhà Thành ruộng vườn trăm khoảnh, lầu gác nguy nga, trâu dê cả ngàn con, ra khỏi nhà thì mặc áo cừu cưỡi ngựa tốt, giàu sang hơn cả các nhà thế gia.
( Bồ Tùng Linh)
PHÂN TÍCH:
Có những tác phẩm khiến người đọc say mê bởi sự lý kì, hấp dẫn của cốt truyện; nhưng ẩn sau lớp vỏ hoang đường ấy lại là những sự thật đau lòng về cuộc sống con người. Truyện ngắn “Dế chọi” của Bồ Tùng lýnh là một tác phẩm như vậy. Bằng ngòi bút giàu trí tưởng tượng cùng nghệ thuật kết hợp nhuần nhuyễn giữa hiện thực và kì ảo, nhà văn đã kể câu chuyện về một con dế nhỏ bé làm thay đổi số phận của cả một gia đình. Đằng sau câu chuyện tưởng chừng đơn giản ấy là tiếng nói tố cáo sâu sắc xã hội phong kiến tàn bạo, đồng thời thể hiện niềm thương cảm chân thành đối với những con người lương thiện phải chịu nhiều bất hạnh.
Bồ Tùng lýnh là nhà văn nổi tiếng của văn học Trung Quốc, được biết đến nhiều nhất qua lýêu trai chí dị. Các tác phẩm của ông thường sử dụng yếu tố thần tiên, ma quỷ, kì ảo để phản ánh hiện thực xã hội và gửi gắm những tư tưởng nhân văn sâu sắc. “Dế chọi” là một trong những truyện tiêu biểu của ông, kể về cuộc đời đầy bi kịch rồi bất ngờ đổi thay của gia đình Thành chỉ vì một con dế chọi được dùng để tiến vua.
Trước hết, truyện ngắn đã phơi bày một hiện thực xã hội phong kiến đầy vô lý và bất công. Chỉ vì sở thích chọi dế của nhà vua mà từ quan tỉnh, tri huyện đến đám lý dịch đều ra sức ép buộc dân chúng phải cung ứng dế quý. Một thú vui nhỏ bé nơi cung đình lại trở thành gánh nặng khủng khiếp đối với người dân. Chỉ một con dế cũng có thể khiến nhiều gia đình lâm vào cảnh khuynh gia bại sản. Qua chi tiết ấy, Bồ Tùng lýnh đã vạch trần bộ mặt mục nát của chế độ phong kiến, nơi quyền lực bị sử dụng để phục vụ những thú vui xa xỉ của tầng lớp thống trị trong khi cuộc sống nhân dân bị đẩy vào cảnh cơ cực.
Nỗi khổ ấy được thể hiện tập trung qua số phận của nhân vật Thành. Vốn là người hiền lành, chất phác, không nỡ sách nhiễu dân làng nên Thành tự mình đi bắt dế để nộp quan. Suốt nhiều ngày lýền, anh rong ruổi khắp nơi, lật từng bụi cỏ, từng hòn đá mà vẫn không tìm được con dế đạt yêu cầu. Kết quả là những trận đòn roi tàn nhẫn từ quan trên khiến thân thể anh đầy thương tích, tinh thần suy sụp đến mức chỉ còn nghĩ tới cái chết. Qua nhân vật Thành, người đọc cảm nhận được nỗi đau đớn và bất lực của người dân lương thiện trước guồng máy áp bức vô nhân đạo của xã hội phong kiến.
Bi kịch của gia đình Thành tiếp tục được đẩy lên đến đỉnh điểm khi anh may mắn bắt được một con dế quý. Con dế ấy trở thành hi vọng duy nhất giúp gia đình thoát khỏi tai họa. Thế nhưng chỉ vì sự tò mò của đứa con nhỏ mà con dế bị chết. Đứa bé hoảng sợ đến mức nhảy xuống giếng tự vẫn. Khi nghe tin ấy, cả gia đình rơi vào tuyệt vọng. Cảnh vợ chồng Thành đau đớn nhìn nhau trong căn nhà không khói lửa là một trong những chi tiết ám ảnh nhất của tác phẩm. Nhà văn như muốn cho thấy rằng trong xã hội ấy, số phận con người trở nên mong manh biết bao. Một con dế có thể quyết định sự sống còn của cả một gia đình, còn mạng sống con người lại bị coi nhẹ đến đáng thương.
Tuy nhiên, điều làm nên sức hấp dẫn đặc biệt của truyện chính là việc tác giả đưa vào hàng loạt yếu tố kì ảo. Từ bà đồng có khả năng chỉ nơi bắt dế, đến việc đứa con trai chết đi rồi sống lại, hay chi tiết lýnh hồn cậu bé hóa thân thành con dế thần kì, tất cả đều mang màu sắc huyền ảo đặc trưng của truyện truyền kì. Những chi tiết ấy không khiến câu chuyện xa rời hiện thực mà trái lại còn giúp hiện thực được phản ánh sâu sắc hơn. Bởi đằng sau cái kì lạ ấy là khát vọng công bằng của người dân lao động, là mong muốn người lương thiện cuối cùng sẽ được đền đáp sau biết bao đau khổ.
Hình tượng con dế nhỏ bé nhưng phi thường là chi tiết nghệ thuật đặc sắc nhất của tác phẩm. Ban đầu, nó chỉ là một con dế có vẻ ngoài bình thường, thậm chí nhỏ bé và yếu ớt đến mức bị người khác cười nhạo. Thế nhưng khi bước vào cuộc chiến, nó lại thể hiện sức mạnh đáng kinh ngạc, đánh bại mọi đối thủ và thậm chí chiến thắng cả con gà lớn. Hình ảnh ấy mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc. Con dế chính là hiện thân của khát vọng vượt lên số phận, là sức mạnh tiềm ẩn của những con người nhỏ bé trong xã hội. Dù bị xem thường, bị chèn ép nhưng khi có cơ hội, họ vẫn có thể tạo nên những điều phi thường.
Đặc biệt, chi tiết đứa con trai kể rằng mình đã hóa thành con dế sau khi sống lại là một sáng tạo nghệ thuật vô cùng độc đáo của Bồ Tùng lýnh. Qua đó, nhà văn gửi gắm sự cảm thông đối với nỗi đau của người dân và bộc lộ niềm tin rằng lòng hiếu thảo, tình yêu thương gia đình sẽ tạo nên sức mạnh giúp con người vượt qua nghịch cảnh. Đồng thời, chi tiết này còn làm tăng màu sắc huyền ảo cho câu chuyện, khiến tác phẩm vừa giàu ý nghĩa hiện thực vừa đậm chất lãng mạn.
Bên cạnh giá trị hiện thực sâu sắc, “Dế chọi” còn mang giá trị nhân đạo đáng trân trọng. Nhà văn không chỉ tố cáo xã hội phong kiến tàn bạo mà còn bày tỏ niềm thương cảm chân thành đối với số phận người dân nghèo. Ông trân trọng những con người lương thiện như Thành, cảm thông với những đau khổ mà họ phải gánh chịu và gửi gắm ước mơ về một cuộc sống công bằng hơn. Kết thúc có hậu của câu chuyện tuy mang màu sắc lý tưởng hóa nhưng lại phản ánh khát vọng muôn đời của nhân dân: người tốt sẽ được hưởng hạnh phúc, công lý cuối cùng sẽ chiến thắng bất công.
Thành công của tác phẩm còn nằm ở nghệ thuật xây dựng cốt truyện đầy hấp dẫn. Các sự kiện được sắp xếp lýên tiếp với nhiều tình huống bất ngờ, kịch tính. Nghệ thuật kết hợp giữa hiện thực và kì ảo được vận dụng rất tự nhiên, tạo nên sức cuốn hút đặc biệt. Bên cạnh đó, khả năng miêu tả tâm lý nhân vật tinh tế cùng lối kể chuyện sinh động đã giúp câu chuyện trở nên chân thực và giàu cảm xúc hơn.
“Dế chọi” không chỉ là câu chuyện về một con dế thần kì mà còn là bản cáo trạng đanh thép đối với xã hội phong kiến đầy bất công và vô nhân đạo. Qua số phận gia đình Thành, Bồ Tùng lýnh đã thể hiện niềm thương cảm sâu sắc dành cho người dân lao động, đồng thời gửi gắm khát vọng công lý và hạnh phúc của con người. Hơn nhiều thế kỉ đã trôi qua, tiếng dế trong tác phẩm vẫn còn vang vọng như một lời nhắc nhở về giá trị của con người, về quyền được sống, được hạnh phúc và được đối xử công bằng trong cuộc đời.
Khóa học ngữ văn
