PHÂN TÍCH “LÁ CỜ THÊU SÁU CHỮ VÀNG” CỦA NGUYỄN HUY TƯỞNG

Lòng yêu nước đôi khi bùng cháy mãnh liệt nhất trong trái tim của những người trẻ tuổi, khi khát vọng cống hiến lớn hơn mọi giới hạn về tuổi tác và lễ nghi. Qua đoạn trích “Bóp nát quả cam” trong tác phẩm Lá cờ thêu sáu chữ vàng, nhà văn Nguyễn Huy Tưởng đã khắc họa hình tượng Trần Quốc Toản với lòng yêu nước nồng nàn, ý chí quyết tâm đánh giặc và khát vọng được góp sức bảo vệ non sông. Hình ảnh quả cam bị bóp nát không chỉ thể hiện nỗi uất ức của người thiếu niên anh hùng mà còn trở thành biểu tượng cho khí phách và tinh thần trách nhiệm với đất nước. Học văn Cô Diệu Thu mời các em cùng khám phá những nét đặc sắc trong nghệ thuật xây dựng nhân vật và thông điệp sâu sắc mà đoạn trích gửi gắm về lòng yêu nước, ý chí hành động và trách nhiệm của tuổi trẻ.
VĂN BẢN:
Hoài Văn nằn nì thế nào, quân Thánh Dực cũng không cho chàng xuống bến. Hầu đứng trên bờ, thẫn thờ nhìn bế Bình Than. Hai cây đa cổ thụ bóng râm mát che kín cả một khúc sông.
Dưới bến, những thuyền lớn của các vương hầu về hội sư, đậu dài san sát, sơn đủ các màu. Trên mui thuyền, phất phới những lá cờ của Chiêu Minh Vương, của Chiêu Quốc Vương, của Chiêu Văn Vương, của Hưng Đạo Vương, của Chiêu Thành Vương, chú ruột mình. Thuyền của các vị đại vương chức trọng quyền cao nhất của triều đình đều ở gần thuyền ngự. Thuyền ngự cao lớn hơn cả, chạm thành hình một con rồng lớn rực rỡ son vàng, hai bên mạn dàn bày cờ quạt, tàn vàng, tán tía và đồ nghi trượng của đấng thiên tử. Hết thuyền của các đại vương, là thuyền của các tước vương bậc dưới, rồi đến thuyền của các tước hầu, cuối cùng là thuyền của các tướng sĩ đi hộ vệ. Mắt Hoài Văn đăm đăm nhìn thuyền của Hưng Võ Vương, Hưng Trí Vương, Hưng Hiếu Vương… Thì ra các con trai của Hưng Đạo Vương đều đủ mặt. Những người em họ ấy, chẳng qua chỉ hơn Hoài Văn dăm sáu tuổi! Cha ta mất sớm, nên ta mới phải đứng rìa nhục nhã thế này! Mắt Hoài Văn giương to đến rách, nhìn những lá cờ bay múa trên những đoàn thuyền đẹp như gấm như hoa.
Qua các cửa sổ có chấn song triện và rủ mành mành hoa của thuyền rồng, Hoài Văn thấy các vương hầu đang ngồi bàn việc nước với quan gia. Hoài Văn chẳng biết các vị nói gì. Nhưng bàn gì thì bàn, Hoài Văn dám chắc cũng chẳng ngoài cái việc lớn là cho quân Nguyên mượn đường vào đánh Chiêm Thành hay chống cự lại mà thôi. Dã tâm của quân giặc đã hai năm rõ mười rồi. Nó giả tiếng mượn đường, kì thực là để cướp sống lấy nước Nam. Chỉ có việc đánh, làm gì phải kéo ra tận đây mà bàn đi bàn lại? Chao ôi! Lúc này mà Hoài Văn được xuống thuyền rồng và được bàn việc nước! Chàng sẽ quỳ trước mặt quan gia, và xin quan gia cho đánh!
Thuyền rồng im lặng. Tàn tán, cờ quạt và các đồ nghi trượng in màu son vàng trên mặt nước sông trong vắt. Chốc chốc lại thấy những người nội thị quỳ ở ngoài mui, dâng trầu cau, dâng trà, dâng thuốc. Hoài Văn muốn xô mấy người lính Thánh Dực để chạy xuống bến nhưng lại sợ tội chém đầu.
Chàng muốn thét to: “Xin quan gia cho đánh”, nhưng lại e phạm thượng!
Mấy tháng ở kinh, thấy sứ Nguyên hạch sách đủ điều, Hoài Văn chỉ có một ý nghĩ là đánh, đánh để giữ lấy quốc thể. Rồi lại đến ngày quan gia mời các bộ lão khắp bàn dân thiên hạ về kinh để nhà vua hỏi ý dân xem nên cho giặc mượn đường hay nên đánh lại. Các bộ lão là những người quê mùa, chất phác, chưa bao giờ được bước chân vào nơi lầu son gác tía, chưa bao giờ được bàn việc nước, thế mà nghe quan gia hỏi, họ đều nắm tay, gân mặt, khảng khái tâu lên: “Xin đánh!”, trăm miệng một lời, làm rung chuyển cả tòa điện Diên Hồng. Những người áo vải ấy còn biết đường phải trái, huống chi ta là bậc tôn thất há lại không nghĩ được như học sao? Đến họ mà quan gia còn hỏi kế, sao ta là người gần gụi, quan gia chẳng hỏi một lời?
Suốt ngày hôm qua, Hoài Văn ruổi ngựa đi tìm vua, quên không ăn uống. Hôm nay, đợi mãi từ sớm đến trưa, Hoài Văn thấy đói cồn cào, mắt hoa lên, đầu choáng váng, chân tay buồn bã. Hoài Văn không chịu được nữa. Đứng mãi đây cho đến bao giờ? Thôi thì liều một chết vậy. Ta cứ xuống, chỉ nói hai tiếng xin đánh, rồi mặc cho triều đình luận tội. Hoài Văn xô mấy người lính Thánh Dực ngã chúi, xăm xăm xuống bến. Một viên tướng hốt hoảng chạy tới, níu áo Hoài Văn lại. Quốc Toản tuốt gươm, mắt trừng lên một cách điên dại:
– Không buông ra, ta chém!
Lính ập đến giữ lấy Hoài Văn. Thực ra, vì nể chàng là một vương hầu, nên họ đã để cho chàng đứng đấy từ sáng. Nay thấy Hoài Văn làm quá, viên tướng nói:
– Quân pháp vô thân”, hầu không có phận sự ở đây, nên trở ra cho anh em làm việc. Nhược bằng khinh thường phép nước, anh em tất phải chiếu theo thượng lệnh.
Hoài Văn đỏ mặt bừng bừng, quát lớn:
– Ta xuống xin bệ kiến quan gia, không kẻ nào được giữ ta lại. Lôi thôi thì hãy nhìn lưỡi gươm này!
Viên tướng tái mặt, hô quân sĩ vây kín lấy Hoài Văn. Quốc Toản vung gươm múa tít, không ai dám tới gần. Tiếng kêu, tiếng thét náo động cả bến sông.
Vừa lúc ấy thì cuộc họp bàn ở dưới thuyền rồng tạm nghỉ. Vua Thiệu Bảo và nhiều vị vương hầu ra ngoài mui, ngắm cảnh sông nước. Nghe tiếng ồn ào trên bến, vua và các vương hầu nhìn lên, thấy Hoài Văn đang giằng co với một đám quân Thánh Dực. Vua hỏi:
– Cái gì trên ấy?
Quốc Toản nhìn xuống bến, thấy vua Thiệu Bảo đứng tựa đầu rồng dưới một cái tàn vàng. Nhà vua còn rất trẻ, mặt đỏ như gấc chín. Đứng sau vua là Hưng Đạo Vương cao lớn, chòm râu dài đốm bạc bay theo chiều gió. Chiêu Thành Vương lật đật chạy lên bờ, hỏi cháu:
– Cháu không sợ tội chết hay sao mà đến đây? Ai bảo cháu?
Hoài Văn thưa:
– Cháu nghe tin thiên tử họp với các vương hầu ở đây nên cháu đến.
– Cháu chưa đến tuổi dự bàn việc nước. Bên trong là tình họ hàng máu mủ, xuề xoà, thân mật với nhau thế nào cũng được. Nhưng ra ngoài là việc nước, có tôn ti, có phép tắc, không thể coi thường. Cháu tự tiện đến đây đã là không phải, lại gây sự với quân Thánh Dực, đấy là tội chết. Chú cũng phải vạ lây. Sao cháu không nghe lời chú, về quê thờ mẹ, mà lại tự nhiên vô cớ đến đây gây ra cái vạ tày trời này?
Hoài Văn cúi đầu thưa:
– Cháu biết là mang tội lớn. Nhưng cháu trộm nghĩ rằng khi quốc biến thì đến đứa trẻ cũng phải lo, huống hồ cháu đã lớn. Cháu chưa đến tuổi dự bàn việc nước, nhưng cháu có phải là giống cỏ cây đâu mà ngồi yên được? Vua lo thì kẻ thần tử cũng phải lo. Cha cháu mất sớm, cháu được chú nuôi nấng. Chú thường dạy cháu những điều trung nghĩa, cháu vẫn ghi trong tấc dạ. Cháu liều chết đến đây, chỉ muốn góp một vài lời. Thưa chú, chẳng hay quan gia cùng các vương hầu bàn định thế nào? Cho nó mượn đường hay đánh lại?
– Việc đó còn đang bàn. Có người chủ chiến. Có người chủ hoà…
Quốc Toản đứng phắt dậy, mắt long lên:
– Ai chủ hoà? Ai chủ hoà? Cho nó mượn đường ư? Không biết đấy là kế giả đồ diệt Quắc của nó đấy sao? Dâng giang sơn gấm vóc này cho giặc hay sao mà lại bàn thế?
Quốc Toản chạy xồng xộc xuống bến, quỳ xuống tâu vua, tiếng nói như thét:
– Xin quan gia cho đánh! Cho giặc mượn đường là mất nước.
Nói xong, Hoài Văn run bắn, tự đặt thanh gươm lên gáy và xin chịu tội. Thiệu Bảo gật đầu, mỉm cười nhìn Hưng Đạo Vương và Hưng Đạo Vương cũng gật đầu. Lời nói của Hoài Văn chính hợp với ý của nhà vua và Hưng Đạo. Nhưng trong đám vương hầu, có một người sầm nét mặt. Đấy là Chiêu Quốc Vương Ích Tắc. Ích Tắc là kẻ chủ hoà. Chiêu Quốc Vương nói:
– Hoài Văn Hầu làm loạn phép nước. Muốn trị nước phải trị người thân trước đã.
Cúi xin quan gia cho chém đầu để nghiêm quân lệnh! Hoài Văn cúi rạp đầu xuống đất. Bên cạnh Hoài Văn, Chiêu Thành Vương cũng quỳ để xin chịu tội. Thiệu Bảo ôn tồn nói:
– Hoài Văn Hầu làm trái phép nước, tội ấy đáng lẽ không dung. Nhưng Hoài Văn còn trẻ, tình cũng đáng thương, lại biết lo cho vua, cho nước, chí ấy đáng trọng.
Vua truyền cho hai chú cháu đứng dậy, và nói tiếp:
– Việc nước đã có người lớn lo. Hoài Văn Hầu nên về quê để phu nhân có người sớm hôm trông cậy. Đế vương lấy hiếu trị thiên hạ, em ta không nên sao nhãng phận làm con.
Vừa lúc ấy, một người nội thị bưng một mâm cỗ đi qua. Thiệu Bảo cầm lấy một quả
cam sành chín mọng trên mâm, bảo một nội thị đưa xuống cho Hoài Văn. Vua nói:
– Tất cả các vương hầu đến đây đều có phần cam. Chẳng có lẽ Hoài Văn lại không được hưởng. Vậy thưởng cho em ta một quả. Hoài Văn đỡ lấy quả cam, tạ ơn vua, lủi thủi bước lên bờ. Đằng sau có tiếng cười của Thiệu Bảo và các vương hầu. Nghe rõ cả tiếng cười của mấy vị tước vương chỉ nhỉnh hơn mình vài tuổi. Vua ban cam quý. Nhưng việc dự bàn thì vẫn không cho. Hoài Văn tức, vừa hờn vừa tủi. Uất nhất là đám quân Thánh Dực cũng khúc khích cười chế nhạo. Hoài Văn quắc mắt, nắm chặt bàn tay lại. Được rồi! Ta sẽ chiêu binh mãi mã, cầm quân đi đánh giặc. Xem cái thằng phải đứng ngoài rìa này có phải là một kẻ toi cơm không. Hai hàm răng Hoài Văn nghiến chặt. Hai bàn tay càng nắm chặt lại, như để nghiền nát một cái gì. Hai bàn tay rung lên vì giận dữ. Hoài Văn lẩm bẩm: “Rồi xem ai giết được giặc, ai báo được ơn vua, xem ai hơn, ai kém. Rồi triều đình sẽ biết tay ta.”. Hai nắm tay Hoài Văn càng bóp mạnh.
Đám người nhà trông thấy Hoài Văn hầm hầm trở ra thì chạy ùa tới hỏi chuyện. Để đỡ ngượng với họ, Hoài Văn nói liều:
– Ta đã tâu với quan gia cho đánh. Quan gia ban cho ta quả cam này. Ơn vua lộc nước, ta đem về để biểu mẫu thân.
Trần Quốc Toản xoè bàn tay phải ra. Quả cam đã nát bét, chỉ còn trơ bã.
(Nguyễn Huy Tưởng, Lá cờ thêu sáu chữ vàng, NXB Văn học, Hà Nội, 1997, tr. 11–19)
PHÂN TÍCH:
 Có những trang sử không chỉ được viết bằng chiến công nơi trận mạc mà còn được khắc sâu bởi ngọn lửa yêu nước bừng cháy trong trái tim tuổi trẻ. Giữa thời khắc non sông đứng trước họa xâm lăng, một thiếu niên mới mười sáu tuổi đã dám vượt qua lễ nghi, phép tắc để cất lên tiếng nói tha thiết: “Xin quan gia cho đánh!”. Đó không chỉ là tiếng nói của riêng Trần Quốc Toản mà còn là tiếng vọng của tinh thần dân tộc đời đời không chịu khuất phục. Qua đoạn trích trong tác phẩm Lá cờ thêu sáu chữ vàng, nhà văn Nguyễn Huy Tưởng đã khắc họa thành công hình tượng người anh hùng thiếu niên giàu lòng yêu nước, đồng thời tái hiện hào khí Đông A sục sôi của dân tộc thời Trần.
 Nguyễn Huy Tưởng là một trong những cây bút tiêu biểu của nền văn học Việt Nam hiện đại, đặc biệt thành công ở đề tài lịch sử. Sáng tác của ông thường hướng ngòi bút về những thời đại hào hùng của dân tộc với cảm hứng ngợi ca sâu sắc. Lá cờ thêu sáu chữ vàng là tác phẩm nổi tiếng viết về người anh hùng thiếu niên Trần Quốc Toản trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên thời nhà Trần. Đoạn trích “Bóp nát quả cam” đã khắc họa thành công hình ảnh Hoài Văn Hầu với lòng yêu nước mãnh liệt, ý chí quyết tâm đánh giặc cứu nước cùng khí phách hiên ngang của tuổi trẻ Đại Việt.
 Trước hết, đoạn trích đã tái hiện hoàn cảnh lịch sử căng thẳng của đất nước khi giặc Nguyên đang lăm le xâm lược Đại Việt. Không khí hội nghị Bình Than hiện lên vừa trang nghiêm vừa nặng nề với những đoàn thuyền lớn của các vương hầu san sát trên bến sông. Những chi tiết miêu tả như “thuyền ngự cao lớn hơn cả”, “tàn vàng, tán tía”, “cờ quạt và đồ nghi trượng của đấng thiên tử” đã làm nổi bật sự uy nghiêm của triều đình nhà Trần. Nhưng đằng sau vẻ lộng lẫy ấy là nỗi lo vận nước đang treo trên đầu dân tộc. Chính trong bối cảnh ấy, nhân vật Hoài Văn Hầu – Trần Quốc Toản – xuất hiện với tâm trạng day dứt, nóng lòng muốn được góp sức cứu nước.
 Điểm nổi bật nhất của đoạn trích là hình tượng Trần Quốc Toản với lòng yêu nước mãnh liệt và ý thức trách nhiệm lớn lao đối với non sông. Dù tuổi còn nhỏ, chưa được dự bàn việc nước, nhưng Hoài Văn luôn đau đáu suy nghĩ về vận mệnh dân tộc. Chàng hiểu rõ âm mưu của giặc Nguyên: “Nó giả tiếng mượn đường, kì thực là để cướp sống lấy nước Nam.” Nhận thức ấy cho thấy sự thông minh, nhạy bén và tầm nhìn vượt tuổi của nhân vật. Trong khi nhiều vương hầu còn do dự giữa chủ hòa và chủ chiến, Trần Quốc Toản đã có lập trường dứt khoát: phải đánh để giữ nước, giữ quốc thể. Tinh thần yêu nước ấy càng trở nên cảm động khi được đặt trong hình hài của một thiếu niên chưa đến tuổi trưởng thành.
 Không chỉ yêu nước bằng suy nghĩ, Trần Quốc Toản còn mang trong mình khát vọng được hành động vì đất nước. Việc bị ngăn không cho xuống bến khiến chàng rơi vào cảm giác “đứng rìa nhục nhã”. Những người em họ chỉ hơn mình vài tuổi đều được dự hội nghị, còn bản thân lại bị xem là quá nhỏ để bàn việc nước. Nỗi tủi hờn ấy không xuất phát từ sự hiếu thắng cá nhân mà từ khát khao được cống hiến. Câu nói: “Ta có phải là giống cỏ cây đâu mà ngồi yên được?” đã bộc lộ sâu sắc ý thức trách nhiệm của một con người luôn đặt vận nước lên trên bản thân. Đó là tiếng nói của lòng yêu nước chân thành, mãnh liệt và đầy tự trọng.
 Tác giả còn khắc họa nhân vật qua hành động quyết liệt, mạnh mẽ. Không chịu nổi cảnh đứng ngoài cuộc, Hoài Văn đã “xô mấy người lính Thánh Dực ngã chúi”, “tuốt gươm”, “vung gươm múa tít” để lao xuống bến xin gặp vua. Những động từ mạnh liên tiếp đã làm nổi bật khí phách ngang tàng, nóng nảy nhưng đầy nhiệt huyết của tuổi trẻ. Đỉnh điểm của đoạn trích là lời tâu vang dội: “Xin quan gia cho đánh! Cho giặc mượn đường là mất nước.” Tiếng nói ấy như xé tan không khí im lặng, thể hiện tinh thần quyết chiến quyết thắng của dân tộc Đại Việt. Ẩn sau lời nói tưởng như bồng bột ấy là một tấm lòng trung quân ái quốc vô cùng sâu sắc.
 Bên cạnh lòng yêu nước, nhân vật Trần Quốc Toản còn hiện lên với cá tính mạnh mẽ và lòng tự trọng cao. Sau khi được vua ban cam nhưng vẫn không được dự bàn việc nước, Hoài Văn cảm thấy “vừa hờn vừa tủi”. Chàng đau vì bị xem thường, đau vì chưa được triều đình công nhận khả năng của mình. Chính sự uất ức ấy đã thôi thúc chàng nung nấu ý chí lập công: “Ta sẽ chiêu binh mãi mã, cầm quân đi đánh giặc.” Đây là bước chuyển biến quan trọng trong tâm lí nhân vật: từ nỗi hờn tủi cá nhân vươn lên thành khát vọng lập công cứu nước. Chi tiết “quả cam đã nát bét” trong tay Hoài Văn trở thành biểu tượng giàu ý nghĩa. Nó không chỉ cho thấy cơn giận dữ, uất ức bị dồn nén mà còn thể hiện sức mạnh tinh thần đang cuộn trào trong trái tim người thiếu niên anh hùng.
 Đặc biệt, Nguyễn Huy Tưởng đã rất thành công trong nghệ thuật xây dựng nhân vật. Tác giả đặt nhân vật vào tình huống giàu kịch tính: một thiếu niên không được dự bàn việc nước nhưng lại mang trong mình khát vọng cứu nước mãnh liệt. Qua hàng loạt chi tiết miêu tả ánh mắt, hành động, lời nói, dòng suy nghĩ nội tâm, hình tượng Trần Quốc Toản hiện lên vô cùng sinh động và chân thực. Ngôn ngữ đối thoại giàu khí thế, dồn dập, mạnh mẽ đã góp phần khắc họa rõ nét tính cách nhân vật. Đồng thời, việc tái hiện bối cảnh lịch sử cùng không khí hội nghị Bình Than cũng giúp tác phẩm mang đậm màu sắc sử thi, khơi dậy niềm tự hào dân tộc trong lòng người đọc.
Không chỉ ca ngợi một nhân vật lịch sử, đoạn trích còn gửi gắm bài học sâu sắc về trách nhiệm của tuổi trẻ đối với đất nước. Trần Quốc Toản tuy nhỏ tuổi nhưng không sống thờ ơ trước vận mệnh dân tộc. Hình tượng ấy nhắc nhở thế hệ hôm nay rằng lòng yêu nước không nằm ở những lời nói lớn lao mà bắt đầu từ ý thức trách nhiệm, từ khát vọng cống hiến và tinh thần dám hành động vì điều đúng đắn.
 Khép lại đoạn trích, hình ảnh bàn tay bóp nát quả cam vẫn để lại dư âm mạnh mẽ trong lòng người đọc. Đó là bàn tay của lòng căm thù giặc, của khát vọng lập công và của một trái tim tuổi trẻ đang rực cháy vì non sông Đại Việt. Bằng ngòi bút giàu cảm xúc và đậm chất sử thi, Nguyễn Huy Tưởng đã làm sống dậy hình tượng người anh hùng thiếu niên Trần Quốc Toản, biểu tượng đẹp đẽ cho tinh thần yêu nước và khí phách dân tộc Việt Nam muôn đời.

Khóa học ngữ văn

Xem chi tiết
Xem chi tiết
Xem chi tiết
Xem chi tiết
Xem chi tiết
Xem chi tiết
Xem chi tiết