PHÂN TÍCH “MÙA LÁ RỤNG TRONG VƯỜN” CỦA MA VĂN

Chiều ba mươi Tết, khi con người tìm về với mái ấm và cội nguồn, một cuộc trở về bất ngờ cũng đủ đánh thức bao yêu thương đã lắng sâu trong kí ức. Trong “Mùa lá rụng trong vườn” của Ma Văn Kháng, sự xuất hiện của chị Hoài sau nhiều năm xa cách không chỉ đem đến niềm vui đoàn tụ mà còn làm sống dậy những mối dây tình nghĩa giữa các thành viên trong gia đình ông Bằng. Qua bài viết, Học văn Cô Diệu Thu cùng các em khám phá vẻ đẹp của tình thân, đạo lí gia đình, sự gắn kết giữa quá khứ và hiện tại, đồng thời cảm nhận những suy tư nhân văn sâu sắc của Ma Văn Kháng về cách con người gìn giữ những giá trị bền vững giữa những biến động của cuộc đời.

VĂN BẢN:

Cầu được, ước thấy. Người phụ nữ mà Lí và Phượng cùng ao ước hiện ra, thật như đã hiện ra ngay trước cổng nhà, vào đúng lúc cả nhà đang tíu tít vào buổi cúng tất niên chiều ba mươi Tết.

Nghe tiếng chuông điện, Phượng chạy ra của. Trước hai cánh cổng sắt là một phụ nữ nông thôn trạc năm mươi, người thon gọn trong cái áo bóng chần hạt lựu. Chiếc khăn len nâu thắt ôm một khuôn mặt rộng có cặp mắt hai mí đằm thắm và cái miệng tươi. Người phụ nữ đeo một cái tay nải nặng, dáng vừa đi bộ từ ga xe lửa về, không có cái vẻ ngác ngơ lạ lẫm, nhưng hai con mắt đậm nỗi bồi hồi.

Phượng kéo cánh của sắt, dè dặt:

– Bác… bác hỏi ai ạ ? A, có phải bác là… là chị Hoài không ạ?

– Cô Phượng đấy như?

Phượng quay ngoắt về sau, reo to :

– Chị Hoài! Chị Hoài lên, anh Đông, chị Lí, anh Luận ơi!

Sự việc diễn ra quá ư đột ngột! Đông, Lí, Luận hấp tấp từ phòng khách ùa ra vệt đường lát xi măng đi qua vườn cây ra cổng, nhìn thấy chị Hoài thật rồi mà vẫn còn ngơ ngơ ngác ngác, nửa tin nửa ngờ. Chị Hoài lên! Lên đúng chiều ba mươi Tết! Thật ngoài sức tưởng tượng ! Trong tâm úc vẫn là có hình bóng chị Hoài. Chị Hoài, vợ anh cả Tường liệt sĩ. Chị Hoài, dâu trưởng, nết na, thuỳ mị. Trong tiềm thức vẫn sống động một chị Hoài đẹp người, đẹp nết. Nhưng bây giờ chị Hoài đã có một gia đình riêng với những quan hệ riêng, lo toan riêng, nên vẫn nhớ, vẫn quý, vẫn yêu chị đấy, mà lại không dám, không nỡ níu kéo chị về mình. Quan hệ của chị ở gia đình này đã thuộc về quá khứ. Kỉ niệm của chị ở đây đẹp nhưng buồn. Chị có quyền quên mà không ai được trách cứ.

Phượng sôi nói, nồng hậu:

– Em mừng quá, chị Hoài ơi. Để em xách tay nải cho.

Lí ôm chầm người phụ nữ đã một thời là dâu trưởng, nức nở :

– Đúng là có linh tính nhé. Chị xem lời em nói có thiêng không ? Em vừa nói: Ước gì chị Hoài hiện ra bây giờ nhỉ.

– Hơn chục năm nay chị Hoài chưa lên Hà Nội rồi đấy. – Luận nói.

– Làm gì! Đám cưới chú và có Phượng chị còn lên dự cơ mà. Mới có chín năm thôi. Bận quá. Nhà nông chẳng bao giờ hết việc. Ông đâu ?

Luận ra vẻ thành thạo :

– Tháng này đã cấy đâu chị ? Ông ở trên nhà, có lẽ sắp xuống đấy.

  • Dung mà còn rỡ công kia việc nọ cứ dồn tới. khoai tây. Còn họp Đại hội. Định đi từ sớm kia, mà

– Cứ vứt toạch công việc một chỗ đã, chị ạ – Lí chêm, hai mắt tít lại – Đời người chỉ những lo cùng lo có chết!

– Ông có khoẻ không, hai có ?

– Ông không khoẻ lắm, chị ạ – Phượng đáp, chưa hết mừng rỡ – Gặp chị ở ngoài đường không chắc em đã nhận ra được đâu. Hôm cưới em, chị mặc áo vét như cán bộ kia.

Luận đi cạnh chị Hoài, nghiêng nghiêng đầu :

– Thì chị vẫn là chủ nhiệm chứ, chị Hoài ?

Người phụ nữ cười :

– Vẫn, nhưng tôi chuyển sang làm chủ nhiệm hợp tác xã đan dệt thảm ngô rồi. Đấy, cái bãi soi hỏi chú về chơi, đi thuyền ra, xem chọi trâu ấy, giờ bạt ngàn là ngô. À, có Phượng chuyển được công tác về dưới này rồi nhi. Thôi thế cũng mừng. Rồi lo cho bà, cho cháu về dần cỏ ạ.

Phượng nắm tay chị Hoài :

– Sao chị biết em chuyển công tác về dưới này ?

  • Ông viết thư cho tôi. Ông kể hết. Cả chuyện cậu Cừ. Thế nên tôi mới sốt ruột, phải lên ngay. Tôi sợ ông buồn.

Đưa mắt nhìn Phượng, Luận nhận ra Phượng buột khỏi tay chị Hoài. Phượng cúi mắt chớp chớp vì một cảm kích bất ngờ. Người phụ nữ tưởng đã cắt hết mối dây liên hệ với gia đình này, vẫn giao cảm, vẫn chia sẻ buồn vui và cùng tham dự cuộc sống của gia đình này. Luận đi tụt lại phía sau cùng Phượng, anh muốn gần gũi Phượng trong mối đồng cảm này. Phía trước, Lí kéo tay chị Hoài, vui vẻ quá mức, cùng Đông đưa chị vào phòng khách.

Trong phòng khách đã bày cỗ cúng, Đông súc ấm, pha trà. Lí sà xuống tay

nải cùng chị Hoài.

  • Chẳng mang được cái gì lên đâu – Chị Hoài xỏi lỗi – Cái Ngoan, thằng

Tung cú nhét vào, rồi giục : Mẹ đi đi, không ông buồn, các chú, các cô mong! Đây là gạo nếp tăng sản của nhà. Cái giò thủ anh ấy gói đây, ông thích ăn giò thủ lắm đấy, cô Lí ạ. Còn bọc này là sắn dây. Trẻ con nó giã, nó rây đấy. À, cái giống mướp hương này thơm ngon mà to quả lắm. Cô Phượng cất đi mà gieo. Gieo đêm nay là tốt nhất đấy. Ở nhà, trồng bờ ao, có quả hai cân bảy kia. Ờ, cho nó leo bờ tường. À, ông thợ mộc còn đấy không ? Mấy con rồi ? Chú Đông tóc bạc nhưng vẫn khoẻ nhỉ! Cháu Dư có hay gửi thư về không ? Cô Lí trông không nhận ra được nữa. Trẻ như gái mười tám ấy!

Lí tít mắt, hai má hây hay :

– Ông Đông sắp thành ông Di Lặc rồi, chị ạ. Còn em… bệnh đấy chị ơi… Cầu thang có tiếng ba toong” chống lịch kịch. Phượng và Luận chạy ra chân cầu thang.

Ông Bằng đã xuống hết bậc. Đã đến lúc phải xuống để cúng, cũng là lúc ông nghe thấy xôn xao tin chị Hoài lên. Ông cố đi cho ngay ngắn. Trong ông cao, gầy hơn mọi ngày, nhung trang trọng, chỉnh tề hơn, mặc dầu vẫn là bộ com lê đen, kẻ sọc mờ, cài khuy chéo. Có lẽ do gương mặt ông ánh lên cái cảm xúc của con người trước ngưỡng của của năm mới, do con mắt đã qua khỏi căn bệnh, sáng dậy, át đi vẻ già nua, tàn lụi và nỗi ưu tư còn ghi vết ở trên trán, và nếp da xệ ở hai bên cằm.

Ông sũng lại khi nhìn thấy Hoài, mặt thoáng một chút ngơ ngẩn. Rồi mắt ông chớp liên hồi, môi ông lật bật không thành tiếng, có cảm giác ông sắp khóc oà. Hoài gần như không chủ động được mình, chị lao về phía ông Bằng, quên cả đôi dép, đôi chân to bản, gót nứt nẻ thâm đen, giẫm trên nền đá lạnh, kịp hãm lại khi còn cách ông già hai hàng gạch hoa.

-Ông!

Người phụ nữ thốt lên một tiếng như tiếng nấc. Và giọng ông Bằng bỗng khê đặc, khàn rè:

– Hoài đấy ư, con?

Phượng quay mặt đi, mắt ngấn lệ không nỡ nhìn cảnh gặp gỡ, không nỡ thấy đôi gót chân nứt nẻ của chị Hoài, ngục dội lên những con sóng nghẹn ngào và hai cánh mũi se se cay. Cảnh gặp gỡ vui mừng nhiễm một nỗi tiếc thương, đau buồn, ê nhức cả tim gan.

Ông Bằng nén xúc động, rút khăn tay, chấm kẽ mắt:

  • Anh ấy và các cháu vẫn khoẻ cả chứ, con ?

– Thưa ông, bốn cháu của con nhờ trời vẫn khoẻ mạnh cả. Cháu đầu đi bộ đội đóng ở biên giới Hà Tuyên, vừa rồi hết nghĩa vụ, về xã tham gia sản xuất. Cháu thứ hai học lớp mười. Cháu gái thứ ba học lớp tám. Cháu trai út học lớp sáu. Nhà con, cảm ơn ông, vẫn được bình thường. Anh ấy giờ tham gia Uỷ ban xã. Lẽ ra, anh ấy thu xếp công việc được cũng lên kính thăm ông dịp này. Cả các cháu nữa, bốn đúa, đứa nào cũng đòi đi. Nhất là thằng lớn, nó cứ bảo mấy lần nó qua Hà Nội mà chưa được vào nhà thăm ông, lần này rỗi rãi nó phải đi…

Câu chuyện của người phụ nữ nông thôn có cái vẻ kề cà đã đưa cuộc gặp gỡ ra khỏi những chấn động tình cảm bất thường. Và Lí đã hí húi xếp xong mâm cúng, nhảy từ cái ghế đẩu xuống, xoa xoa hai bàn tay rất ý tứ trước ông Bằng:

– Ông ạ, con đề nghị thế này, hàn huyện còn nhiều chuyện, để lát nữa tha hồ. Giờ, mời ông lại khấn cho lễ cúng gia tiên bắt đầu ạ.

Mọi người dạt ra, để trống một khoảng rộng trước bàn thờ. Ông Bằng soát lại hàng khuy áo, chỉnh lại cái cà vạt, ho khan một tiếng, dịch chân lại trước mặt bàn thờ. Hương cháy, uốn cong một đoạn tàn, bốc toả một làn khói ảo mờ. Hai cái bánh chưng bọc lá xanh tươi, buộc lạt điều, xếp cạnh mâm ngũ quả và những chén rượu xinh xắn đặt rải hàng ngang trước bệ thờ. Ngọn đèn dầu lim dim in cái chấm vàng vào dãy khung ảnh đặt sát tường. Ảnh song thân ở chính giữa ; bên trái, ảnh bà Bằng mặt hoa da phấn, tóc vấn khăn nhung, phía phải, ảnh anh cả Tường áo trấn thủ ô quả trám, mũ ca lô nghiêng, nét đã phôi pha.

Ngước mái đầu hói, diểm tóc lơ thơ đã bạc hết, ông Bằng chắp hai tay trước ngực. Khói hương và khung cảnh trầm tĩnh đưa hiện tại về quá khứ. Thoáng cái, ông Bằng như quên hết xung quanh và bản thể. Dâng lên trong ông cái cảm xúc thiêng liêng rất đỗi quen thân và tâm trí ông bỗng mờ nhoà, phiêu diêu lãng đãng gần xa, ẩn hiện tầng tầng lớp lớp những ảnh hình khi tỏ khi mờ, chập chờn như trong chiêm bao. Thưa thầy mẹ đã cách trở ngàn trùng mà vẫn hằng sống cùng con cháu. Con vẫn văng vẳng nghe đâu đây lời giáo huấn ông cha, tiên tổ. Con vẫn đinh ninh ghi khắc công ơn sinh thành dưỡng dục của thầy mẹ, gia tộc, ông bà, cha mẹ, tổ tiên, con như thấy từ trong tâm linh, huyết mạch sự sinh sôi nảy nở, phúc thọ an khang của cháu con đời đời nối tiếp trong cộng đồng dân tộc yêu thương. Và em, cùng con trai cả của ba mẹ. Em cùng con đã mất và vẫn hằng sống, hằng vui buồn, chia sẻ, đỡ nâng, dắt dìu tôi cùng các cháu, các con, các em…

Trong giây lát, nhập vào dòng xúc động tri ân tiên tổ và những người đã khuất, ông Bằng lâng lâng trong những hoài niệm hư ảo, thoát trần. Nhưng, ông chỉ ở trong dòng tình cảm trôi lũng lờ đó trong giây phút. Quá khứ không cắt rời với hiện tại. Tổ tiên không tách rời với con cháu. Tất cả liên kết một  mạch bền chặt thuỷ chung. Bởi vậy, ông lại trở về với những ngày đang sống, với những người đang sống. Mắt ông bỗng cay sè. Lòng ông lại bồn ngộn. Và ông vội cúi xuống, bật trên đôi môi những lời cầu khấn thành kính và run rẩy :

– Hôm nay ngày ba mươi tháng chạp năm Bính Tuất, buổi tất niên, con cùng các nam tử, nữ tử, tôn tử.

Rồi theo lời cha, Luận bỗng bấm tay Đông. Mặt Luận biến sắc. Rõ ràng là khi kể tên các con trai, ông cụ đã gạt tên thằng Cừ. Lí ngọ nguậy không yên, lát sau, ghé tai chị Hoài, hí hửng : “Chị ơi, em biết khấn đúng bài kinh nhà Phật cơ”. Mắt chị Hoài đăm đắm ngước lên bàn thờ. Và khi ông Bằng vừa buông tay chắp, rút mùi xoa lau mắt, lui ra, chị liền thế chân ông cụ, hai tay nâng lên trước ngực.

Thật là một mâm cỗ quá ư thịnh soạn vào cái thời buổi đất nước còn rất nhiều khó khăn sau hơn ba mươi năm chiến tranh và so với đồng lương có hạn của cán bộ, công nhân, viên chúc lúc này.

Tràn trề trên mặt bàn, chạm cả vào cành quất Lí cố tình để sát vào mâm cỗ cho bữa ăn thêm đẹp, thêm sang, là la liệt bát đĩa ngồn ngộn các món ăn. Ngoài các món thường thấy ở cỗ Tết như gà luộc, giò, chả, nem, măng hầm chân giò, miến nấu lòng gà, xúp lơ xào thịt bò… – món nào cũng mang dấu ấn tài hoa của người chế biến – là các món khác thường như gà quay ướp húng lìu, vịt tần hạt sen, chả chìa, mọc, vây…

Đặc sắc nhất, mà có lẽ Lí muốn bộc lộ khiếu năng, cùng tấm lòng mình nhiều nhất ở đó, là các món vịt tần, vây và mọc, nhất là món mọc. Chị đã rất tỉ mỉ, và kĩ tính hết sức khi chế biến món này. Miếng thăn được chọn lựa, giã thật nhuyễn nhà thay cho giò sống, được chính tay chị trộn với mộc nhĩ, nấm hương, rồi nặn thành từng viên tròn trĩnh. Nổi nước dùng đảm bảo phải trong veo. Và chính tay chị vớt, chia đều ra các bát nhỏ.

Mọi người vào mâm, hân hoan khác thường.

(- Ma Văn Kháng- Mùa lá rụng trong vườn, NXB Phụ nữ Hà Nội, 1985)

PHÂN TÍCH:

Ma Văn Kháng là một trong những cây bút tiêu biểu của văn xuôi Việt Nam hiện đại, đặc biệt thành công khi khám phá đời sống con người trong những chuyển động phức tạp của xã hội sau chiến tranh. Văn chương của ông thường không tìm kiếm những biến cố quá dữ dội mà đi sâu vào những quan hệ đời thường, nơi mỗi niềm vui, nỗi buồn, sự lựa chọn hay một cuộc gặp gỡ đều có thể làm hiện lên chiều sâu nhân bản của con người. Mùa lá rụng trong vườn là một tác phẩm như thế. Qua cuộc trở về bất ngờ của chị Hoài vào chiều ba mươi Tết và không khí sum họp của gia đình ông Bằng, Ma Văn Kháng đã gợi lên vẻ đẹp của tình thân, đạo lí gia đình, sự gắn kết giữa quá khứ và hiện tại, đồng thời gửi gắm những suy tư sâu sắc về cách con người gìn giữ những giá trị bền vững giữa cuộc đời nhiều biến động.

Mở đầu đoạn trích là một tình huống đặc biệt: người mà các thành viên trong gia đình đang mong nhớ bỗng xuất hiện đúng vào chiều ba mươi Tết. Chị Hoài, người con dâu trưởng đã rời gia đình từ lâu sau khi chồng là anh Tường, một liệt sĩ, qua đời, trở về trong sự ngỡ ngàng và xúc động của mọi người. Cách Ma Văn Kháng xây dựng cuộc gặp gỡ này rất tự nhiên nhưng giàu sức gợi. Trước cánh cổng sắt, Phượng nhìn thấy một người phụ nữ nông thôn “trạc năm mươi”, mang theo chiếc tay nải nặng và “hai con mắt đậm nỗi bồi hồi”. Chỉ vài nét phác họa, nhà văn đã làm hiện lên một người phụ nữ đã trải qua nhiều năm tháng lao động và cuộc sống, nhưng vẫn giữ nguyên sợi dây tình cảm với gia đình cũ.

Đặc biệt, sự xuất hiện của chị Hoài không chỉ đem đến niềm vui mà còn đánh thức cả một miền kí ức. Các thành viên trong gia đình vẫn nhớ về chị như một người “dâu trưởng, nết na, thuỳ mị”, “đẹp người, đẹp nết”. Họ hiểu rằng chị đã có một gia đình riêng, những mối quan hệ riêng và những lo toan riêng, nên không ai muốn níu kéo chị trở lại. Cách ứng xử ấy cho thấy tình cảm trong gia đình ông Bằng không phải là sự ràng buộc ích kỉ. Họ yêu quý chị nhưng cũng tôn trọng cuộc sống của chị. Chính vì thế, cuộc trở về của Hoài càng trở nên cảm động: đó là một sự trở về tự nguyện của tình nghĩa, chứ không phải sự trở về vì nghĩa vụ.

Hình tượng chị Hoài vì thế trở thành điểm hội tụ của những giá trị đẹp đẽ về tình thân. Chị không trở về với hai bàn tay trống rỗng. Trong chiếc tay nải là gạo nếp, giò thủ, sắn dây, giống mướp hương và những sản vật bình dị của quê nhà. Những thứ ấy tuy nhỏ bé nhưng chứa đựng cả tấm lòng của người phụ nữ nông thôn. Chị nhớ ông thích ăn giò thủ, nhớ Phượng, nhớ những người trong gia đình, nhớ cả những chuyện rất nhỏ của cuộc sống. Qua đó, Ma Văn Kháng cho thấy tình thân không nhất thiết được biểu hiện bằng những lời nói lớn lao. Đôi khi, nó nằm trong một món quà quê, một câu hỏi han, một giống cây đem cho, hay đơn giản là việc vẫn nhớ người kia thích ăn gì, đang sống ra sao.

Đặc biệt cảm động là chi tiết chị Hoài biết chuyện Phượng chuyển công tác và chuyện cậu Cừ. Chị nói mình lên ngay vì “sợ ông buồn”. Câu nói giản dị ấy có sức lay động bởi nó chứng minh rằng khoảng cách thời gian và không gian không thể xóa bỏ mối dây tình cảm giữa chị với gia đình. Chị Hoài đã rời khỏi ngôi nhà này về mặt đời sống, nhưng chưa bao giờ thực sự rời khỏi nó trong tình cảm. Ma Văn Kháng đã diễn tả rất tinh tế trạng thái ấy: những con người tưởng như đã “cắt hết mối dây liên hệ” với nhau vẫn có thể “giao cảm, vẫn chia sẻ buồn vui và cùng tham dự cuộc sống của gia đình này”.

Nếu cuộc gặp với các thành viên khác đem đến niềm vui thì cuộc gặp giữa chị Hoài và ông Bằng lại được phủ lên một sắc thái thiêng liêng, sâu lắng. Khi nghe tin Hoài trở về, ông Bằng cố gắng bước xuống cầu thang. Hình ảnh người cha già “cao, gầy”, khuôn mặt ánh lên cảm xúc, đôi mắt sáng lên giữa những dấu vết già nua cho thấy sự trở về của Hoài đã đánh thức trong ông một niềm xúc động sâu xa. Khi nhìn thấy chị, ông “môi ông lật bật không thành tiếng”, còn Hoài thì gần như không làm chủ được mình, lao về phía ông. Chỉ một tiếng gọi “Ông!” và câu đáp “Hoài đấy ư, con?” đã đủ mở ra cả một thế giới tình cảm.

Ở đây, Ma Văn Kháng đặc biệt thành công trong việc miêu tả những rung động rất khó gọi tên. Đó là niềm vui của cuộc hội ngộ, nhưng đồng thời là nỗi đau của mất mát. Hoài trở về nhưng Tường, người chồng của chị và người con trai cả của ông Bằng, đã không còn. Vì thế, trong niềm vui vẫn có bóng dáng của một khoảng trống không thể lấp đầy. Phượng “mắt ngấn lệ”, không chỉ bởi xúc động trước cuộc gặp mà còn bởi chị nhìn thấy đôi gót chân nứt nẻ, thâm đen của Hoài. Chi tiết nhỏ ấy khiến niềm vui đoàn tụ mang thêm vị đắng của những năm tháng nhọc nhằn.

Cũng từ cuộc gặp gỡ ấy, hình tượng chị Hoài hiện lên với vẻ đẹp của một người phụ nữ giàu nghĩa tình, thủy chung và nhân hậu. Chị đã có một gia đình khác, nhưng không vì thế mà quên gia đình của người chồng đã mất. Chị nhớ ông Bằng, nhớ các em, nhớ những câu chuyện của ngôi nhà cũ. Đáng quý hơn, chị không chỉ trở về bằng tình cảm mà còn bằng sự quan tâm cụ thể. Chị hỏi thăm sức khỏe ông, kể chuyện chồng con, chia sẻ những thay đổi trong gia đình. Trong chị có sự mộc mạc của người phụ nữ nông thôn nhưng cũng có một chiều sâu tình cảm đáng trân trọng.

Không khí chiều ba mươi Tết càng làm cho tình cảm ấy trở nên thiêng liêng. Tết trong đoạn trích không chỉ là thời khắc chuyển giao giữa năm cũ và năm mới mà còn là thời điểm con người tìm về cội nguồn. Gia đình ông Bằng chuẩn bị lễ cúng gia tiên. Trước bàn thờ, ông Bằng chìm vào dòng hồi tưởng về cha mẹ, tổ tiên và những người đã khuất. Khói hương, bánh chưng, mâm ngũ quả, những tấm ảnh người thân đã mất tạo nên một không gian vừa hiện thực vừa linh thiêng.

Trong giây phút ấy, quá khứ và hiện tại như hòa làm một. Ông Bằng cảm nhận rằng những người đã khuất vẫn “hằng sống cùng con cháu”; công ơn sinh thành, dưỡng dục vẫn được lưu truyền qua các thế hệ. Đó là quan niệm rất đẹp về gia đình: con người không tồn tại như một cá thể biệt lập mà luôn nằm trong dòng chảy của gia tộc, kí ức và truyền thống. Quá khứ không phải thứ đã chết mà vẫn hiện diện trong đời sống hôm nay thông qua tình yêu, đạo lí và sự tiếp nối giữa các thế hệ.

Đáng chú ý, Ma Văn Kháng không lí tưởng hóa gia đình bằng cách che giấu những rạn nứt. Trong chính khoảnh khắc thiêng liêng ấy, khi ông Bằng khấn tên các con, mọi người nhận ra ông đã gạt tên Cừ. Một chi tiết rất nhỏ nhưng gợi ra những vấn đề phức tạp đang tồn tại bên trong gia đình. Bởi vậy, gia đình trong Mùa lá rụng trong vườn không phải một không gian hoàn toàn yên bình, nơi tất cả con người đều giống nhau về suy nghĩ và cách sống. Đó là một gia đình đang đứng trước những biến động của thời đại, có yêu thương, có tổn thương, có khoảng cách và cả những điều khó nói thành lời.

Chính điều đó làm cho tư tưởng của tác phẩm trở nên sâu sắc. Ma Văn Kháng không chỉ ca ngợi tình cảm gia đình mà còn đặt ra câu hỏi: điều gì có thể giữ con người lại với nhau khi mỗi cá nhân đều có những lựa chọn, những quan niệm và những con đường riêng? Câu trả lời của nhà văn dường như nằm ở tình nghĩa, ở lòng thủy chung, ở sự biết nhớ về nguồn cội và biết trân trọng những người đã cùng mình đi qua những năm tháng quan trọng của cuộc đời.

Bên cạnh đó, hình ảnh “mùa lá rụng” cũng mang giá trị biểu tượng giàu sức gợi. Lá rụng là quy luật tự nhiên của thời gian. Một chiếc lá rời khỏi cành nhưng sự sống của cây vẫn tiếp tục. Con người cũng vậy, mỗi thế hệ lần lượt đi qua, có người mất đi, có người trưởng thành, có người rời khỏi gia đình để tạo dựng một cuộc đời riêng. Nhưng sự ra đi ấy không đồng nghĩa với sự biến mất hoàn toàn. Kí ức, tình yêu thương, truyền thống và những giá trị tốt đẹp vẫn tiếp tục được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Bởi thế, “mùa lá rụng” vừa gợi cảm giác mất mát, chia lìa, vừa hàm chứa niềm tin vào sự tiếp nối của sự sống.

Một nét đặc sắc khác của đoạn trích là nghệ thuật xây dựng không khí gia đình. Những chi tiết tưởng như rất đời thường như chiếc tay nải của Hoài, những món quà quê, tiếng ba toong của ông Bằng, bàn thờ tổ tiên, mâm cỗ Tết… đều được lựa chọn có chủ ý. Đặc biệt, mâm cỗ tất niên hiện lên vô cùng phong phú với nhiều món ăn. Đó không đơn thuần là một bữa ăn mà còn là biểu hiện của sự chăm chút, của mong muốn vun vén cho mái ấm gia đình. Qua những món ăn được chuẩn bị công phu, nhà văn làm nổi bật vẻ đẹp của đời sống gia đình Việt Nam: con người tìm thấy sự gắn kết không chỉ trong những lời nói mà còn trong những sinh hoạt bình dị hằng ngày.

Ngôn ngữ của Ma Văn Kháng trong đoạn trích cũng mang đậm màu sắc đời sống. Những lời đối thoại tự nhiên, thân mật, đôi khi có phần hóm hỉnh khiến nhân vật hiện lên gần gũi như những con người đang thực sự sống trong một gia đình. Đan xen với lời thoại là những đoạn miêu tả nội tâm giàu sức gợi, đặc biệt trong tâm trạng của ông Bằng và Phượng. Nhà văn không đẩy cảm xúc lên thành những lời than khóc ồn ào mà thường để cảm xúc lan tỏa qua ánh mắt, cử chỉ, giọng nói, sự im lặng. Nhờ vậy, nỗi xúc động trong tác phẩm trở nên chân thật và có sức ám ảnh.

Có thể nói, sức hấp dẫn của Mùa lá rụng trong vườn nằm ở khả năng biến những điều rất bình thường thành những suy tư có ý nghĩa. Một cuộc trở về chiều ba mươi Tết, một mâm cơm tất niên, một nén hương trước bàn thờ, một món quà quê hay một tiếng gọi thân thương đều có thể trở thành chiếc cầu nối giữa con người với con người, giữa hiện tại với quá khứ. Qua đó, Ma Văn Kháng khẳng định giá trị bền vững của tình thân trong một thế giới luôn vận động và đổi thay.

Mùa lá rụng trong vườn vì thế không chỉ là câu chuyện về một gia đình mà còn là câu chuyện về cách con người gìn giữ căn cước tinh thần của mình. Những chiếc lá có thể rời khỏi cành, những người thân có thể đi xa, thời gian có thể làm đổi thay diện mạo cuộc đời, nhưng nếu tình nghĩa vẫn còn thì sự chia xa chưa bao giờ là mất mát hoàn toàn. Trong chiều ba mươi Tết, giữa khói hương và mâm cơm đoàn tụ, những con người của gia đình ông Bằng tìm lại nhau, và cũng từ đó tìm lại một phần sâu thẳm của chính mình. Đó chính là giá trị nhân văn bền lâu mà Ma Văn Kháng gửi gắm: giữa bao biến động của cuộc đời, gia đình vẫn là một trong những nơi con người có thể trở về để được yêu thương, được nhớ đến và được nối mình với một dòng chảy lớn hơn chính cuộc đời mình.

Khóa học ngữ văn

Xem chi tiết
Xem chi tiết
Xem chi tiết
Xem chi tiết
Xem chi tiết
Xem chi tiết
Xem chi tiết