Học văn Cô Diệu Thu giới thiệu bài viết “Đi lấy mật” của Đoàn Giỏi, một đoạn trích giàu sức gợi từ Đất rừng phương Nam. Qua lời kể của nhân vật An, chuyến đi vào rừng lấy mật hiện lên vừa chân thực, sinh động, vừa mở ra vẻ đẹp kỳ thú của thiên nhiên U Minh và những kinh nghiệm sống quý giá của con người nơi đây.

Buổi sáng hôm ấy, đất rừng phương Nam hiện ra trước mắt tôi trong một vẻ đẹp vừa tĩnh lặng, vừa kỳ bí. Trời không có gió, không khí mát lạnh bởi hơi nước từ sông ngòi, mương rạch và mùi hương của đất, của cây cỏ sau bình minh. Ánh sáng trong veo phủ lên những ngọn tràm, khiến cảnh vật trước mắt tôi như được đặt sau một lớp thủy tinh mỏng.
Tía nuôi tôi đi trước, bên hông đeo chiếc túi da beo, trên lưng là chiếc gùi tre, tay cầm chà gạc. Thỉnh thoảng, tía lại vung dao phát những cành gai chắn đường. Thằng Cò đội chiếc thúng to, bên trong có vò nước, mấy gói cơm nắm và chiếc áo ướt mồ hôi. Tôi đi ở giữa, quảy một chiếc gùi nhỏ mà má nuôi đã mượn cho tôi từ hôm trước. Con Luốc thì chạy tung tăng, lúc lại sục sạo vào những bụi cây ven đường.
Đây là lần đầu tiên tôi được theo tía nuôi và thằng Cò vào rừng để “ăn ong”. Má nuôi đã kể cho tôi nghe rất nhiều về nghề gác kèo ong, nhưng thú thật, tôi vẫn chưa thể hình dung hết được công việc ấy. Những điều má kể khiến tôi nhận ra rằng kiến thức về rừng U Minh không phải thứ có thể dễ dàng tìm thấy trong sách vở. Đó là vốn hiểu biết được tích lũy qua bao đời sống gắn bó với thiên nhiên.
Chúng tôi đi từ lúc gà vừa gáy rộ canh tư. Đi mãi, tôi bắt đầu thấm mệt. Tía nuôi chỉ nghe tiếng bước chân phía sau cũng biết tôi đã mệt, dù ông chẳng hề quay lại nhìn. Ông bảo cả bọn dừng lại nghỉ, đợi tôi ăn cơm xong rồi mới tiếp tục lên đường.
Tía ngồi tựa vào gốc cây ngái, thong thả nhồi thuốc vào tẩu. Con Luốc trung thành ngồi cạnh chân chủ. Thằng Cò thì bưng vò nước lên uống một hơi dài. Bỗng nó đặt vò nước xuống, thúc vào lưng tôi rồi hỏi:
“Đố mày biết con ong mật là con nào?”
Tôi nhìn theo tay nó chỉ mà chẳng thấy gì cả. Khu rừng lúc ấy yên tĩnh đến lạ. Tôi cố căng mắt nhìn nhưng trước mặt chỉ toàn cây cối. Có những chấm đen nhỏ bay trên cao, nhưng đó là ruồi xanh. Có con chuồn chuồn lướt qua mặt nước. Có những con mối cánh nhỏ li ti bay lên từ mặt đất. Còn ong mật thì tôi hoàn toàn không nhìn thấy.
Tôi đành chịu thua. Thằng Cò vênh mặt lên cười rồi bảo tôi nhìn vào khoảng trống giữa hai nhánh tràm cao. Tôi kiên nhẫn nhìn theo. Một lúc sau, tía nuôi cũng đưa tay chỉ cho tôi.
“Đó, con thấy nó chưa?”
Tôi khe khẽ đáp:
“Thấy rồi!”
Tôi bắt đầu nhận ra những con ong nhỏ bé đang bay trong những tầng xanh của cây lá. Một con, rồi hai con, rồi ba con. Sau đó là cả đàn ong bay nối nhau như một xâu chuỗi hạt cườm. Tôi ngạc nhiên trước sự tinh tế của thiên nhiên. Muốn nhìn thấy những “tay sứ giả của bình minh” ấy, con người phải thật tinh mắt và thính tai.
Ăn cơm xong, chúng tôi lại tiếp tục đi. Khi mặt trời lên cao hơn, khu rừng như bừng tỉnh. Gió bắt đầu thổi rì rào. Hơi đất tỏa lên trong nắng. Chim chóc cất tiếng hót. Hương hoa tràm theo gió lan ra khắp rừng, ngọt ngào và ngây ngất.
Tôi nhìn thấy những con kì nhông nằm phơi mình trên những gốc cây mục. Màu da của chúng liên tục biến đổi, lúc xanh, lúc vàng, lúc đỏ rồi lại tím xanh. Con Luốc vừa động đậy, chúng đã lập tức chạy tứ tán, con thì biến thành màu xám giống màu vỏ cây, con lại xanh như chiếc lá ngái. Tôi càng đi càng cảm thấy khu rừng này giống như một thế giới sống động, nơi mỗi loài vật đều có cách riêng để tồn tại.
Đến một cái trảng rộng, trước mắt chúng tôi bỗng xuất hiện cả một bầy chim hàng nghìn con. Chúng đồng loạt bay vút lên giữa vùng cỏ tranh vàng óng. Tôi thích thú kêu lên:
“Chim đẹp quá, Cò ơi!”
Thằng Cò chẳng mấy quan tâm, nó chỉ đáp rằng những loài chim ấy chẳng có gì đặc biệt. Nó còn nói nếu tôi gặp được “sân chim” thì tôi mới thực sự biết chim ở đây nhiều đến mức nào.
Tôi hơi tự ái. Tôi muốn hỏi “sân chim” là gì nhưng lại sợ thằng Cò nghĩ mình dốt nên im lặng đi theo nó.
Đi thêm một đoạn, thằng Cò bỗng ra hiệu cho tôi nhìn lên một cây tràm thấp. Trên đó có một chiếc kèo ong. Tôi vui mừng vì cuối cùng cũng được nhìn thấy tổ ong mà chúng tôi đang tìm kiếm.
Tôi hỏi:
“Sao biết nó về cây này mà gác kèo?”
Thằng Cò cười, nhắc tôi rằng má đã kể hết cho tôi nghe rồi. Lúc ấy, tôi mới nhớ lại những lời má nuôi từng nói.
Má bảo rằng rừng U Minh rộng lớn, cây cối lại nhiều vô kể, vì thế muốn gác được kèo ong phải là người thật sự hiểu rừng. Người làm nghề phải biết chọn vùng rừng tốt, biết mùa nào tràm nhiều hoa, biết hướng gió và đoán trước đường bay của ong. Kèo phải được đặt ở nơi kín gió, ít người qua lại, cây cối phù hợp và đủ điều kiện để ong về làm tổ.
Má còn kể rằng kèo ong chỉ là một nhánh tràm được lựa chọn và chuẩn bị rất cẩn thận. Người ta phải chặt kèo từ trước, để mưa nắng làm phai mùi sắt của dao, khiến nó trở nên giống một nhánh cây tự nhiên. Nếu kèo còn mùi sắt mới, ong chúa sẽ không chịu đóng tổ.
Tôi nghe mà thấy công việc tưởng đơn giản ấy hóa ra chẳng hề dễ dàng. Má nuôi còn bảo rằng có người làm nghề “ăn ong” đến mười năm nhưng đến mùa mật vẫn phải mang chiếc gùi không trở về, chỉ vì chọn sai chỗ hoặc đoán sai hướng gió.
Lúc này, tôi ngước nhìn tổ ong đang lúc nhúc trên cây tràm thấp. Tôi hiểu rằng nó không hề xuất hiện ở đó một cách ngẫu nhiên. Phía sau chiếc tổ ong là cả một quá trình quan sát, phán đoán và kinh nghiệm của những con người đã gắn bó sâu sắc với đất rừng.
Tôi lại nhớ đến những kiến thức mình từng được học về cách nuôi ong ở những vùng đất khác. Nhưng càng nhìn chiếc kèo ong trước mắt, tôi càng thấy nghề gác kèo của người dân U Minh thật đặc biệt. Không nơi nào có cách làm tổ ong giống như nơi này. Thiên nhiên và con người dường như đã tìm được một cách hòa hợp riêng, giản dị mà kỳ diệu.
Những con ong vẫn nối cánh nhau bay đi bay về. Trước khi đáp xuống tổ, mỗi con lại lượn thành một vòng tròn nhỏ. Tôi được biết đó chính là vũ điệu báo hiệu của loài ong.
Chúng tôi ngồi ăn cơm dưới một bụi tràm râm mát. Tôi ngồi giữa khu rừng phương Nam đang tràn đầy sức sống, lắng nghe tiếng chim, ngửi hương hoa tràm và nhìn những cánh ong bay qua bay lại. Chuyến đi hôm ấy với tôi không chỉ là một chuyến vào rừng để “ăn ong”. Nó còn mở ra trước mắt tôi cả một thế giới thiên nhiên rộng lớn, nơi mỗi nhành cây, mỗi đàn chim, mỗi tổ ong đều chứa đựng những điều kỳ thú mà sách vở không thể kể hết.
Và tôi hiểu rằng, muốn thực sự biết một vùng đất, có lẽ không thể chỉ đứng ngoài để ngắm nhìn. Phải bước vào đó, phải sống cùng nó, lắng nghe nó và học cách yêu từng nhịp sống của nó. Với tôi, chuyến đi lấy mật đầu tiên ấy đã trở thành một kỉ niệm thật đẹp, để từ đó tôi càng thêm yêu mảnh đất U Minh và những con người chất phác, giàu kinh nghiệm đang ngày ngày sống giữa thiên nhiên phương Nam.
Khóa học ngữ văn
