CHIỀU CHIỀU RA ĐỨNG CỬA SAU

🍂 CHIỀU CHIỀU RA ĐỨNG CỬA SAU – NỖI ĐAU LẶNG THẦM CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ LẤY CHỒNG XA
Chiều chiều ra đứng cửa sau
Ngó về quê mẹ ruột đau chín chiều.
(Ca dao)

Cô Thảo ra lấy chồng đã ba năm. Anh Vận chồng cô hiện làm hương thơ ở làng Mỹ Lý. Anh Vận trước kia có theo học chữ quốc ngữ, nhưng đã hai năm thi yếu lược(1) không đậu nên anh ta lại thôi. Qua năm sau dân trong xóm bầu anh ta lên làm hương thơ trong làng. Ngày nào anh cũng đi nhà này qua nhà khác phát thư, rồi chiều đến lại phải ra tận đình để lấy hòm thư đem lên huyện.

Công việc của anh tuy vất vả, nhưng lương tháng – hay nói cho đúng lương năm – của anh trông ít quá. Làng chỉ trích cho anh ta ba mẫu ruộng và năm đồng bạc để làm tiền lộ phí. Nhưng năm đồng ấy thì không bao giờ anh nhận được. Vì các viên chức đã khéo léo trừ với món tiền phải đóng sưu này thuế khác gần hết.

Nhưng ở vùng quê, được một chức nghiệp như thế, anh Vận cũng cho là danh giá lắm. Và bà Lại, mẹ anh Vận, lúc nói chuyện với những người quen, cũng không quên tự hào được một người con ra đảm đương việc làng việc nước.

Cô Thảo ra lấy chồng vốn liếng không có nên không đi buôn bán gì hết. Cả nhà chỉ trông vào sáu mẫu ruộng tranh và ba mẫu ruộng làng để sống năm này tháng khác.
(Gần đến ngày giỗ ông, Cô Thảo muốn xin chồng về làng. Nhưng mãi đến chiều cũng không nghe chồng nói gì, nên cô phải mượn đến chuyện cây thanh trà(2) để nhắc xa xôi cho chồng nhớ. Anh Vận liền đến xin mẹ cho vợ về làng ăn giỗ. Mẹ chồng bảo cô mang buồng chuối mật về giỗ ông. Anh Vận cũng chạy quanh xóm mượn chỗ này chỗ khác cho cô Thảo thêm bốn hào nữa.)

Tối hôm ấy cô Thảo không đi ngủ sớm. Cô đặt con ngủ yên bên chồng xong lại lật đật xách dao ra sau vườn chuối. Loay hoay một lúc lâu cô mới đem được buồng chuối mật vào nhà. Cô đem để vào một góc thật kín vì cô sợ nửa đêm chuột đến khới. Xong rồi cô mới qua bên nhà cô Thị mượn đôi hoa tai vàng và cái nón lá mới. Sắp đặt đâu đó xong xuôi cô mới lên giường nằm ngủ.

Trời tờ mờ sáng cô Thảo đã trở dậy sắm sửa đi về làng. Làng cô ở cách xa làng Mỹ Lý hơn mười lăm cây số. Vì vậy nên mỗi năm cô chỉ được về làng chừng hai ba lượt là nhiều. Xưa kia cô từng qua lại làng Mỹ Lý ngày một để bán gạo, nhưng sau lúc cô ra lấy chồng thì quê nhà đối với cô đã là nơi xa lạ.

Qua những con đường mòn chạy nấp theo bờ ruộng, cô lại nhớ đến quãng đời bán gạo của cô ngày trước. Trong trí cô hiện ra lần lần hình ảnh của cô Thu, cô Nguyệt, cô Hương, những cô bạn mà trước kia cô cho là thân nhất.

Nhưng đời các cô ấy cũng như cô, nghĩa là cũng có chồng, có con và quãng đời làm dâu cũng vất vả, cũng phẳng bằng như nhau hết.

Đi chưa được bốn cây số cô Thảo đã thấy mỏi. Cô tự nhận thấy sức cô yếu hơn trước nhiều lắm. Cô muốn đi đò(4) cho đỡ chân, nhưng sực nhớ đến những món quà cần phải cho em, cô lại gắng gượng đi nhanh hơn trước.

[…]

Về đến làng cô Thảo gặp ai cũng đón chào niềm nở(5). Lòng cô lúc ấy nhẹ nhàng và vui sướng lắm. Còn họ gặp cô đi đằng xa đã kêu réo(6) lên om sòm(7) như gặp được người sống lại. Họ hỏi thăm cô chuyện này chuyện khác, mục đích là để xem cô ăn mặc độ này có khá hơn trước không. Cô Thảo thấy người làng chào hỏi mình vồn vã(😎 nên đáp lại rất vui vẻ. Cô ta không quên lấy cái nón xuống, giả vờ quạt vào mình để mấy người đứng chung quanh được thấy đôi hoa tai vàng của cô.

Đến trưa hôm ấy thì cô về đến nhà. Mấy cậu em đua nhau ra níu áo chị. Cô Thảo xoa đầu đứa này đỡ cằm đứa khác, nụ cười trên môi cô không khi nào tắt. Trông thấy mẹ trong nhà đi ra cô mừng quá. Cô chạy lại đứng bên mẹ cảm động quá đến rưng rưng nước mắt. Một lúc sau cô đưa thằng Lụn cho mẹ ẵm rồi đi thẳng vào nhà để chào những người quen biết.

Bà Vạn cứ quấn quít bên cháu, bên con quên cả ngày giờ. Bà giới thiệu cô Thảo với người này người khác, bà nhắc đến chuyện cô Thảo lúc cô còn năm sáu tuổi. Bà kể đến đoạn nào bà cũng có ý khoe cô Thảo đức hạnh và khôn ngoan đủ thứ. Bà nói mãi mà không biết chung quanh bà không ai nghe bà hết.

Sung sướng nhất là cô gái có chồng về nhà mẹ. Cô Thảo tuy về giỗ ông nhưng không làm gì hết. Cô vào phòng mẹ nằm ngủ cả buổi chiều, mãi đến lúc gần cúng cô mới chịu đi ra ngoài.

Lúc cô đứng lễ thì ông Vạn, thân sinh cô, vuốt râu cười nói:
– Con phải lễ thế phần chồng con nữa. Nó làm gì bên ấy mà không qua.
Cô Thảo sau khi thụt lùi ra khỏi chiếu mới khẽ đáp :
– Dạ, nhà con mắc việc quan.
Cô Khuê, chị em chú bác với cô Thảo, đứng gần đấy trề môi nói tiếp:
– Thứ đồ làm hương thơ mỗi năm ăn ba mẫu ruộng mà cũng gọi là việc quan.

Ai nấy đều nghe thấy nhưng không ai cãi lại. Ông Vạn đứng cúi đầu xuống hơi ngượng. Còn cô Thảo gương mặt đỏ bừng, quay đầu nhìn xuống bếp. Nhưng ngay lúc ấy cô lại gặp cặp mắt của mẹ đang nhìn cô chòng chọc(9). Cô đau lòng quá đến để hai dòng lệ chảy dài trên má.

Sáng hôm sau, cúng cơm sáng xong xuôi, cô Thảo lại sắm sửa đi qua làng Mỹ Lý. Cô gọi mấy đứa em đến gần rồi cho mỗi đứa năm xu. Trong nhà ai cũng khen cô rộng rãi và biết thương em, nên cô vui sướng lắm. Đang lúc cao hứng cô còn hứa sẽ gửi cho mẹ hai cặp áo quần mới để mặc Tết nữa. Nhưng chính cô cũng không biết sẽ lấy đâu ra hai cặp áo quần ấy. Chỉ trong nháy mắt cô Thảo đã phân phát tất cả số tiền cô đã dành dụm trong một năm.

Lúc sắp sửa lên đường, bà Vạn cho cô nửa con gà và một gói xôi để về nhà chồng. Lúc ra đi cô cảm động quá, đứng bên mẹ và mấy em khóc nức nở.

Về nhà chồng, cô Thảo lại làm việc từ sáng sớm đến chiều, tối tăm cả mày mặt. Lúc nào cô cũng nhớ đến mẹ nghèo, đến em thơ, nhưng nhớ thì lòng cô lại bùi ngùi, trí cô lại bận rộn. Rồi chiều chiều gặp những lúc nhàn rỗi, cô lại ra đứng cửa sau vơ vẩn nhìn về làng Quận Lão. Nhưng làng Quận Lão ẩn sau đám tre xanh đã kéo một gạch đen dài trên ven đồi xa thẳm.

(Theo Tổng tập văn học Việt Nam, tập 33, NXB KHXH, 2000, tr 819-823)

🍂 Không phải tiếng khóc bật thành lời, cũng không phải một bi kịch ồn ào, nỗi đau của người phụ nữ trong xã hội cũ thường hiện lên bằng những buổi chiều lặng lẽ và những cái nhìn ngoái về quê mẹ ở phía xa. Ca dao từng nói: “Chiều chiều ra đứng cửa sau / Ngó về quê mẹ ruột đau chín chiều”, một câu thơ ngắn gọn nhưng đủ sức gợi lên nỗi nhớ quê mẹ khắc khoải của người con gái đi lấy chồng xa. Hồ Biểu Chánh đã mượn chính câu ca dao ấy làm nhan đề cho truyện ngắn “Chiều chiều ra đứng cửa sau”, để từ đó kể lại một câu chuyện đời bình dị mà xót xa, nơi nỗi buồn không ập đến dữ dội mà lặng lẽ bào mòn tâm hồn người phụ nữ qua từng ngày sống.

🍂 Hồ Biểu Chánh là một trong những nhà văn hiện thực tiêu biểu của văn học Việt Nam đầu thế kỉ XX. Văn chương của ông không thiên về kĩ thuật cầu kì mà chú trọng phản ánh đời sống xã hội Nam Bộ với những con người bình thường, đặc biệt là số phận người phụ nữ trong khuôn khổ lễ giáo và nghèo khó. Truyện ngắn “Chiều chiều ra đứng cửa sau” tiêu biểu cho phong cách ấy. Qua nhân vật cô Thảo, tác phẩm không chỉ kể về nỗi nhớ quê mẹ của một người con gái cụ thể mà còn phản ánh bi kịch chung của biết bao phụ nữ nông thôn khi phải rời bỏ mái nhà xưa để bước vào đời làm dâu đầy ràng buộc.

🍂 Trước hết, truyện gây ám ảnh bởi hoàn cảnh sống nghèo túng và bế tắc của cô Thảo sau khi lấy chồng. Chồng cô là anh Vận tuy có chức hương thơ được xem là việc làng việc nước nhưng thực chất chỉ là một chức phận nhỏ bé, lương bổng ít ỏi lại bị sưu thuế bào mòn. Cả gia đình sống lay lắt dựa vào vài mẫu ruộng, cuộc sống quanh năm thiếu thốn. Trong bối cảnh ấy, cô Thảo là một người phụ nữ không vốn liếng, không nghề nghiệp, hoàn toàn lệ thuộc vào nhà chồng. Quê mẹ từ chỗ thân quen đã trở thành nơi xa xôi, mỗi năm chỉ có thể trở về đôi ba lần hiếm hoi.

🍂 Hành trình cô Thảo về giỗ cha là đoạn văn thấm đẫm chất trữ tình và chiều sâu tâm trạng. Từng chi tiết chuẩn bị chuyến đi như cắt buồng chuối giữa đêm, vay mượn tiền, mượn hoa tai, mượn nón lá đều cho thấy tấm lòng hiếu thảo nhưng cũng đầy tủi phận của người con gái nghèo. Con đường dài hơn mười lăm cây số không chỉ làm cô mỏi mệt thể xác mà còn khơi dậy trong cô cả một miền ký ức xưa cũ về những người bạn bán gạo, những tháng ngày còn được đi về tự do. Ký ức ấy hiện lên không để an ủi mà để làm nổi bật hơn sự khép kín, đơn điệu của đời làm dâu hiện tại.

🍂 Khi trở về quê mẹ, niềm vui của cô Thảo vừa chân thành vừa mong manh. Sự đón tiếp niềm nở của người làng, niềm hãnh diện khi khoe đôi hoa tai vàng, chiếc nón mới cho thấy khát khao được nhìn nhận, được yêu thương vẫn luôn cháy trong lòng cô. Thế nhưng, niềm vui ấy nhanh chóng bị phủ bóng bởi ánh nhìn soi xét và những lời mỉa mai về cuộc sống nơi nhà chồng. Câu nói chua cay về chức hương thơ của anh Vận đã vô tình chạm đến nỗi đau sâu kín nhất của cô Thảo. Giây phút cô bắt gặp ánh mắt mẹ nhìn mình chòng chọc và bật khóc là khoảnh khắc bi kịch tinh thần dồn nén đến tột cùng. Đó là nỗi thương cha mẹ, nỗi tủi thân và sự bất lực trước số phận đã an bài.

🍂 Giá trị nhân đạo của truyện thể hiện rõ nhất qua vẻ đẹp tâm hồn của cô Thảo. Dù nghèo khó, cô vẫn dành dụm tiền cho các em, hứa may áo mới cho mẹ dù chính mình không biết sẽ lấy đâu ra tiền. Tình thương ấy hoàn toàn vô điều kiện, luôn đi kèm với sự hi sinh thầm lặng. Trở về nhà chồng, cô lại tiếp tục cuộc sống lam lũ, nhớ mẹ, nhớ quê nhưng không thể thoát ra. Hình ảnh kết thúc truyện khi cô “chiều chiều ra đứng cửa sau vơ vẩn nhìn về làng Quận Lão” mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc. Khoảng cách không gian bị che khuất bởi hàng tre xanh cũng chính là khoảng cách vô hình giữa người phụ nữ và hạnh phúc, giữa khát vọng sống và thực tại trói buộc.

🍂 Trước khi khép lại, có thể khẳng định rằng “Chiều chiều ra đứng cửa sau” là một truyện ngắn giàu giá trị hiện thực và nhân đạo. Hồ Biểu Chánh không cần đến những bi kịch dữ dội mà vẫn khiến người đọc day dứt bằng nỗi đau âm thầm, kéo dài suốt đời người. Đó là nỗi đau của những người phụ nữ sống vì bổn phận, vì gia đình nhưng lại đánh mất chính mình trong im lặng.

🍂 Có thể nói, bằng giọng văn mộc mạc mà thấm thía, “Chiều chiều ra đứng cửa sau” đã khắc sâu hình ảnh người phụ nữ nông thôn lấy chồng xa với nỗi nhớ quê mẹ triền miên và thân phận đầy cam chịu. Tác phẩm không chỉ gợi thương cho cô Thảo mà còn khiến người đọc hôm nay thêm trân trọng tự do, hạnh phúc và quyền được sống cho chính mình, những điều mà người phụ nữ trong xã hội cũ đã từng đánh đổi cả cuộc đời để có được.

———————————-
Học Văn Bằng Công Thức Cùng Cô Diệu Thu: Học văn từ gốc – Công thức dễ dàng
Hotline: 0833.873.089
Địa chỉ: 68 Thụy Phương, Đông Ngạc, Hà Nội
Website: https://letrandieuthu.com

#hocvanbangcongthuc #cogiaodieuthu #chieuchieuradungcuasau #vanhoc #phantichvanhoc #nghiluanvanhoc #NLVH #cadaotucnguvietnam #laychongxa