PHÂN TÍCH TÁC PHẨM “HOA ĐÀO NỞ TRÊN VAI” CỦA VŨ THỊ HUYỀN TRANG – NƠI HOA ĐÀO NỞ TỪ LÒNG NHÂN ÁI

Truyện ngắn “Hoa đào nở trên vai” của Vũ Thị Huyền Trang là một câu chuyện giàu cảm xúc về tình người sau thiên tai và sức mạnh chữa lành của yêu thương. Qua hình ảnh cậu bé Lụm mang trong mình những mất mát sau cơn lũ cùng sự cưu mang đầy ấm áp của gia đình ông Vại, tác phẩm khiến người đọc nhận ra rằng đôi khi chính trong những hoàn cảnh đau thương nhất, lòng nhân ái lại tỏa sáng đẹp đẽ hơn bao giờ hết. Trong bài viết này, Học văn Cô Diệu Thu sẽ cùng các em phân tích vẻ đẹp nội dung và nghệ thuật của truyện ngắn “Hoa đào nở trên vai”, từ đó cảm nhận sâu sắc hơn giá trị của tình thương, sự bao dung và niềm hy vọng trong cuộc sống.
ĐOẠN VĂN:

Ông Vại dừng tay, đứng lùi ra giữa sân ngắm nghía lại bức tường mình vừa tự tay quét lên một lớp sơn xanh. Cô con dâu bê bó củi đi qua cười bảo:

– Ghê thật. Tay nghề bố như thợ sơn chuyên nghiệp.

– Chuyện! Dù gì xây bao nhiêu cái nhà cũng chẳng mất một đồng thuê thợ, chứ đùa à.

– Thế mà anh Vượng chẳng biết làm cái gì.

– Ờ, nhiều khi bố nghĩ chắc là nó con ai không phải con mình.

Ông cười khà khà, đưa mắt ngó thằng Lụm đang ngồi ở góc sân mân mê món đồ chơi còn bám đầy bùn đất. Kể từ mùa lụt đến giờ thằng nhỏ vẫn buồn bã, lầm lì như thế. Tội nghiệp! Có đứa trẻ nào mất ba mất mẹ mà vui. Dẫu cho cả thế giới có yêu thương ôm ấp nó vào lòng cũng không thể bằng tình thân máu mủ. Vậy là Lụm trở thành con cháu nhà này cũng đã được hơn ba tháng. Ông vẫn nhớ như in buổi sáng hôm ấy. Lúc trở về từ nơi tránh lũ ông thất thần nhìn nhà cửa tan hoang. Lúc đang bới trong đống đổ nát tìm nồi niêu, xoong chảo ông giật mình nhìn thấy trên bụi tre bị bão quật nằm rạp xuống bám đầy bùn đất sau cơn lũ có hình hài một con người. Nói đúng hơn đó là một đứa trẻ, quần áo nhuốm màu bùn, tay cố ôm lấy thân cây. Xứ này đâu đâu lạ gì cảnh sau mỗi trận bão lũ lại thấy đồ đạc nhà mình trôi đi, đồ đạc nhà người ta trôi đến. Khi thì xoong nồi, khi thì cây cối, gà, vịt, khi thì quần áo, búp bê, cặp sách. Nói chung đủ cả, lẫn lộn trong bùn đất chẳng còn dùng được. Nhưng chưa bao giờ ông nghĩ thứ trôi đến sau cơn lũ lại là một thằng bé sáu tuổi, người ngợm đặc như một khối bùn.
Sau lũ, nguồn nước cũng ô nhiễm nặng. Những gáo nước đục ngầu không thể gột rửa hết bùn đất trên cơ thể đứa bé tội nghiệp. Ngay cả sau này cũng vậy, dù ông Vại và vợ chồng đứa con trai có yêu thương ra sao cũng không thể nào xóa đi kiý ức đau buồn trong nó. Ông từng dắt thằng nhỏ ngược dòng cơn lũ tìm về nhà. Nhưng về đến nơi chỉ thấy cảnh tượng tan hoang. Người ta nói người thân thằng nhỏ đã trôi theo cơn lũ, không về. Kể từ đó thằng nhỏ trở thành con cháu trong nhà. Người làng nói chắc ông trời thương vợ chồng chị Thảo lấy nhau chục năm vẫn chưa có con nên cơn lũ đã đưa thằng nhỏ dừng lại nơi này. Từ khi có nó nhà cửa tự nhiên cứ ấm dần lên. Dù sau lũ, dựng tạm cái lều, ba con người co cụm lại bên mâm cơm đạm bạc và giấc ngủ tứ bề gió thổi. Chồng Thảo đi xuất khẩu lao động đã được gần hai năm. Ở xa, quặn lòng thương quê nhà mưa lũ. Nên Vĩnh nói số tiền anh tiết kiệm được sẽ gửi về xây một căn nhà tử tế, nền cao, móng chắc để những mùa bão sau bớt đi phần thấp thỏm, âu lo. “Hơn nữa, không thể để cho thằng nhỏ sống tạm bợ thế được. Sẽ chỉ càng khiến nó nghĩ về mất mát”. Thế là một ngôi nhà nhỏ được xây lên. Thỉnh thoảng ông Vại ới thằng nhỏ xách hộ cái xô, giữ giùm cái thang, trông giùm mấy mẻ cá đang phơi ngoài sân sợ con mèo ăn mất. Sợ nó ngồi không hay nghĩ ngợi vẩn vơ, lúc giải lao ông thường đạp xe đèo nó đi chơi làng trên xóm dưới. Mấy đứa nhỏ hàng xóm chạy sang kéo thằng Lụm chạy mất tiêu sau rặng cúc tần. Trời tối nhá nhem thằng Lụm trở về với bộ dạng lấm lem, miệng cười hở hàm răng sún chưa thay hết. Thảo vờ mắng nó vài câu chứ bụng dạ thì mừng vui quá chừng. Ít ra cũng thấy Lụm bắt đầu cười trở lại. Nửa đêm cũng ít dần những cơn ác mộng khiến thằng nhỏ bật dậy mếu máo gọi “mẹ ơi”. Nó cũng thôi bám chặt vào cột nhà mỗi khi thấy ngoài trời nổi gió.

– Phải cố gắng hoàn thiện nhà sớm để còn lo cái Tết. Năm nay lợn không có, ít gà vịt cũng trôi theo cơn lũ mất rồi. Con xem trong làng nhà ai mổ lợn xin ăn đụng.

– Anh Vĩnh nói mấy hôm nữa sẽ gửi tiền về trả nốt tiền công thợ bố ạ. Chắc chỉ còn vài đồng tiêu Tết.

– Ừm… Trả cho người ta. Họ đi làm vất vả, vợ con chắc cũng đợi đồng tiền công trang trải. Nhà mình có nhiều tiêu nhiều, có ít tiêu ít.

– Có mấy mối nợ cũ, con tính đòi mà không nỡ…

– Thôi con à. Ai cũng khó khăn cả. Nhà mình Tết cũng chẳng cần mua sắm gì nhiều. Có tiền thì ăn đụng cả đùi lợn mà ít tiền thì nửa đùi. Nhưng nhớ phải mua cho thằng Lụm bộ quần áo mới.

Thằng Lụm lúc ấy đang đánh đu trên cây trứng gà sau nhà rình xem con gà mái mơ đẻ hoang ngoài bụi. Nó đã đẻ được mười quả trứng cả thảy, Lụm nhất định không nói với ai để một ngày nào đó con gà mái mơ sẽ bất ngờ dẫn một đàn con về trình diện. Lúc ấy hẳn mọi người sẽ vui lắm đấy. Đang ngồi im thin thít, sợ con gà mái biết sẽ bỏ ổ đẻ nào ngờ cô Phụng đi qua véo tai thằng nhỏ kêu oai oái.

– Rình mò cái gì vậy Lụm? Mẹ đâu con?

Thằng nhỏ sững người, ngơ ngác nhìn xung quanh. Nó vẫn chưa thôi thảng thốt mỗi khi nghe ai đó nhắc về mẹ của mình. Người mẹ đã trôi theo cơn lũ không để lại một dấu vết gì. Lụm cũng không quen gọi một người phụ nữ khác là mẹ. Dẫu cô Thảo cũng hiền hậu và dịu dàng giống y mẹ vậy. Cô Thảo nấu những món mà Lụm thích. Lúc lôi Lụm đi tắm rửa cũng hay kì cọ chiếc bớt đỏ ở bả vai, lần nào cũng thốt lên “hệt một bông hoa đào. Thật đẹp”. Tối đến cô Thảo cũng ôm Lụm ngủ, thủ thỉ kể những câu chuyện cổ tích mà ngày xưa mẹ cũng từng hay kể. Mỗi lần nhìn cô Thảo lúi húi nhặt củi, nấu cơm, cọ nồi niêu xoong chảo ngoài thềm giếng là tim Lụm nhói lên. Đến cả chiếc áo lao động đã sờn vai sao cũng giống mẹ quá chừng. Bởi vậy từng có lúc Lụm tránh mặt đi đâu đó cả ngày để cơn nhớ mẹ không trỗi dậy. Người làng thỉnh thoảng gặp Lụm hay bảo: “Đừng gọi cô mãi thế. Gọi là mẹ Thảo dần đi cho quen”. Những lúc ấy cô Thảo thường kéo Lụm vào lòng cười bảo: “Kệ thằng nhỏ thích gọi gì thì gọi, miễn nó thấy thoải mái trong lòng”. Lúc chỉ có hai người với nhau, nghe gió thổi ràn rạt bên tai, cô Thảo bảo: “Sẽ chẳng ai trên đời có thể thay thế được mẹ của con”. Lụm gục đầu vào lòng cô, hực lên một tiếng rồi nức nở. Đấy là lần đầu tiên kể từ mùa lũ ấy, Thảo thấy thằng nhỏ khóc. Bao nhiêu buồn đau, mất mát từng thắt nghẹn trong lòng giờ mới khóc một trận đã đời. Nước mắt càng rơi lòng Lụm càng nhẹ nhõm.

Mùa xuân đến nhanh tự lúc nào không rõ. Đêm qua trước lúc đi ngủ còn thấy trời lùa xuống một cơn gió lạnh. Bầy vịt ngủ lang kêu càm cạp chen lấn ủ ấm lẫn nhau ngoài bờ ao. Tiếng ông Vại nói từ phòng bên vọng sang: “Kéo chăn đắp cho thằng nhỏ kẻo ho đấy con ơi”. Ấy vậy mà sáng nay thằng Lụm thức dậy lấy tay dụi mắt ngỡ ngàng thấy mùa xuân về đâu đó trong thứ nắng non sóng sánh như mật ong. Vẫn là gió đấy thôi, nhưng sáng nay gió mang hương vị khác. Hình như đám hoa cải mọc ven vườn đã nở. Hình như mấy thân cây trọc lá đã bắt đầu nảy lộc non. Lụm chạy ào ra sân ngửa cổ hứng mưa phùn lất phất. Ông Vại chuẩn bị sẵn xô chậu để ngày mai đi tát cá đồng. Lụm nghe thấy thế sướng rơn, cả ngày cứ lẽo đẽo theo ông năn nỉ xin ngày mai được đi bắt cá. Ông Vại quẳng cho Lụm chiếc giỏ tre nói ngày mai cứ bắt đầy năm giỏ sẽ được thưởng đi chợ Tết bên sông vào ngày hai ba tháng Chạp.

Đêm ấy Lụm theo ông Vại ra đồng ngủ trong lều trông cá. Phải tháo nước cả đêm thì mai đồng mới cạn. Tiếng nước chảy ào ào, tiếng cá quẫy ngày một to hơn khiến Lụm nôn nao không thể nào ngủ được. Ông Vại nhóm lửa, chụm những cây to để than hồng âm ỉ suốt đêm. Gió đồng thổi phần phật nhưng không ngăn nổi thằng Lụm thò cổ ra khỏi chiếc chăn bông. Bởi mùi cá nướng thơm quá, lúc tối đã ăn no cơm mà giờ bụng dạ cứ cồn cào. Rồi cả mùi khoai ngô nướng than thơm lừng đã lôi bật thằng nhỏ lồm ngồm bò dậy ra ngồi co ro bên bếp lửa. Chao ôi thịt cá thơm biết bao, chấm thêm tí muối trắng cứ gọi là ngon hết ý. Ông Vại cầm đèn đi soi quanh một lượt lúc quay lại đã thấy Lụm ngủ ngon lành, tay còn cầm bắp ngô đang gặm dở. Ông bế thàng nhỏ vào lều, nằm hát ru nó ngủ. Tiếng hát ru của ông vang khắp cánh đồng, như tiếng gõ cửa gọi mùa xuân trở giấc: “Ầu ơi… Cú kêu ba tiếng cứ kêu/ Kêu mau đến Tết, dựng nêu ăn chè/ Dựng nêu thì dựng đầu hè/ Để sân gieo cải, vãi mè ăn chung/ Dầu bông bưởi dầu bông lài/ Xức vô tới tết còn hoài mùi thơm… ầu ơ…”.

Cảnh tát cá đồng mới đông vui làm sao. Bà con ai cũng ghé chọn vài con cá to mua về để ăn Tết. Cá đồng ăn cỏ, nước sạch chảy lưu thông nên thơm thịt ai cũng thích. Lụm bận bịu với chiếc giỏ đựng đầy tôm tép của mình. Cô Thảo nói Lụm bán được bao nhiêu tiền đều được giữ lại để đi chợ Tết. Thằng nhỏ sướng rơn lội cả ngày dưới đồng bùn bết từ đỉnh đầu xuống chân, chỉ hàm răng trắng thỉnh thoảng thích chí cười khanh khách. Tối về cô Thảo đun sẵn nồi nước lá lôi Lụm ra kì cọ. Tay Thảo dừng lại bên chiếc bớt đỏ trên vai thằng nhỏ, khẽ cười bảo:

– Con nhìn xem, hoa đào ngoài vườn chưa kịp nở mà hoa đào trên vai con đã nở hoa rồi.

– Hồi trước mẹ con hay nói ai có chiếc bớt đỏ như hoa sau này nhất định sẽ hạnh phúc. Có thật vậy không cô?

– Đúng thế. Cô cũng tin sau này Lụm nhất định sẽ trở thành một chàng trai tươi vui, hạnh phúc. Bởi con mang cả mùa xuân đang nở thắm trên vai.

Lụm nhắm mắt ngửa cổ cảm nhận sự ấm áp của từng gáo nước lá dội xuống người mình và những cánh hoa đào chầm chậm nở trên vai…

– Vũ Thị Huyền Trang –

PHÂN TÍCH:

Trong cuộc đời con người, có những mất mát tưởng chừng không gì bù đắp nổi, nhưng cũng có những yêu thương âm thầm đủ sức sưởi ấm lại cả một tâm hồn. Sau những biến cố khắc nghiệt của thiên tai, con người không chỉ phải dựng lại nhà cửa mà còn phải học cách hàn gắn những vết thương trong lòng. Chính trong những hoàn cảnh như thế, tình người càng trở nên quý giá hơn bao giờ hết. Truyện ngắn “Hoa đào nở trên vai” của Vũ Thị Huyền Trang là một câu chuyện giản dị nhưng đầy xúc động về hành trình chữa lành ấy. Qua hình ảnh cậu bé Lụm, một đứa trẻ mồ côi sau cơn lũ cùng gia đình ông Vại, tác phẩm đã làm sáng lên vẻ đẹp của lòng nhân ái, của sự cưu mang và niềm tin rằng sau mọi mất mát, cuộc sống vẫn có thể nở hoa.

 Vũ Thị Huyền Trang là cây bút quen thuộc với những truyện ngắn mang đậm hơi thở đời sống. Văn của chị không tìm đến những kịch tính dữ dội mà thường chọn những lát cắt rất nhỏ của cuộc đời, nơi những con người bình dị hiện lên với tình cảm chân thành và ấm áp. Truyện ngắn “Hoa đào nở trên vai” là một sáng tác tiêu biểu cho phong cách ấy. Bằng câu chuyện về một đứa trẻ bị cơn lũ cuốn khỏi gia đình và được cưu mang trong một mái nhà nghèo, tác giả đã gợi lên những suy ngẫm sâu sắc về tình người, về sự chữa lành của yêu thương và về niềm hy vọng nảy mầm từ chính những đau thương.

 Ngay từ những chi tiết mở đầu, tác giả đã đặt câu chuyện trong bối cảnh quen thuộc của vùng quê sau bão lũ. Khi ông Vại trở về sau những ngày tránh lũ, trước mắt ông chỉ còn lại cảnh nhà cửa tan hoang, đồ đạc vùi lấp trong bùn đất. Nhưng giữa khung cảnh hoang tàn ấy, ông bất ngờ phát hiện một đứa trẻ bám chặt vào bụi tre đổ rạp. Hình ảnh cậu bé “người ngợm đặc như một khối bùn” gợi lên nỗi thương tâm cho số phận nhỏ bé bị cơn lũ tàn nhẫn cuốn trôi khỏi gia đình. Từ giây phút ấy, Lụm bước vào cuộc đời của gia đình ông Vại như một món quà bất ngờ của số phận. Người làng bảo rằng đó là cái duyên mà ông trời mang đến cho vợ chồng Thảo, những người đã lấy nhau nhiều năm nhưng chưa có con. Lời nói mộc mạc ấy vừa mang màu sắc dân gian, vừa như một cách để con người tự an ủi trước những mất mát lớn lao.

 Cảm động nhất trong câu chuyện chính là tấm lòng nhân hậu của gia đình ông Vại. Dù cuộc sống sau lũ vô cùng khó khăn, họ vẫn sẵn sàng mở rộng vòng tay đón nhận đứa trẻ xa lạ. Ông Vại trở thành điểm tựa vững vàng cho Lụm. Ông thường gọi thằng bé phụ những việc lặt vặt như xách xô, giữ thang, trông cá phơi ngoài sân. Không chỉ để giúp việc, ông còn muốn nó bận rộn để bớt nghĩ về nỗi đau mất mát. Những lúc rảnh rỗi, ông đạp xe chở Lụm đi khắp làng để nó quen dần với cuộc sống mới. Tình thương của ông không ồn ào mà lặng lẽ, giống như bóng cây che mát một tâm hồn non nớt đang tổn thương.

 Bên cạnh ông Vại, nhân vật Thảo hiện lên với vẻ đẹp dịu dàng của một người phụ nữ giàu lòng bao dung. Chị chăm sóc Lụm bằng tất cả sự ân cần của một người mẹ, nấu những món nó thích, kéo nó đi tắm rửa, ôm nó ngủ và kể chuyện cổ tích mỗi đêm. Nhưng điều khiến người đọc xúc động nhất chính là sự thấu hiểu của chị. Thảo không bao giờ ép Lụm gọi mình là “mẹ”. Chị nhẹ nhàng nói: “Sẽ chẳng ai trên đời có thể thay thế được mẹ của con.” Câu nói ấy cho thấy tình yêu thương chân thành không phải là sự chiếm hữu mà là sự tôn trọng ký ức và nỗi đau của người khác. Chính sự dịu dàng ấy đã giúp Lụm dần mở lòng. Lần đầu tiên kể từ mùa lũ, cậu bé bật khóc nức nở trong lòng Thảo, một trận khóc giải tỏa tất cả những đau thương bị kìm nén bấy lâu.

 Nhân vật Lụm hiện lên với tâm hồn nhạy cảm của một đứa trẻ sớm chịu nhiều mất mát. Sau cơn lũ, cậu bé trở nên lầm lì, thường xuyên gặp ác mộng và bật dậy gọi “mẹ ơi” giữa đêm. Mỗi khi nghe ai nhắc đến mẹ, Lụm lại sững người thảng thốt. Nhưng tình yêu thương của gia đình mới đã dần sưởi ấm trái tim nhỏ bé ấy. Cậu bé bắt đầu chạy chơi cùng lũ trẻ hàng xóm, cười hở hàm răng sún và háo hức theo ông Vại đi tát cá đồng. Những chi tiết đời thường ấy cho thấy sự hồi sinh của tâm hồn trẻ thơ. Nỗi buồn vẫn còn đó, nhưng bên cạnh nó đã xuất hiện niềm vui và hy vọng.

 Một trong những chi tiết giàu ý nghĩa biểu tượng nhất của truyện chính là chiếc bớt đỏ trên vai Lụm, được ví như một bông hoa đào. Trong văn hóa truyền thống, hoa đào là biểu tượng của mùa xuân, của sự sống và niềm hạnh phúc. Khi Thảo nhìn chiếc bớt ấy và nói rằng “hoa đào ngoài vườn chưa kịp nở mà hoa đào trên vai con đã nở rồi”, đó không chỉ là lời trêu đùa âu yếm mà còn là một lời chúc phúc. Bông hoa đào ấy giống như dấu hiệu của hy vọng, báo hiệu rằng sau những đau thương, cuộc đời vẫn có thể nảy nở những mùa xuân mới.

 Về nghệ thuật, truyện ngắn gây ấn tượng bởi lối kể chuyện nhẹ nhàng, giàu chất thơ. Tác giả sử dụng nhiều chi tiết đời thường như bếp lửa giữa cánh đồng, mùi cá nướng, giỏ tre đựng tôm tép, hay cơn mưa phùn đầu xuân. Những hình ảnh giản dị ấy đã khắc họa sinh động đời sống thôn quê và làm nổi bật vẻ đẹp của tình người trong gian khó. Giọng văn ấm áp, trong trẻo khiến câu chuyện dù nói về mất mát nhưng vẫn tràn đầy hy vọng.

 Khép lại truyện ngắn “Hoa đào nở trên vai”, điều đọng lại trong lòng người đọc không phải là sự tàn khốc của cơn lũ mà chính là tình thương ấm áp giữa con người với con người. Nhờ tình yêu thương của gia đình ông Vại, cậu bé Lụm đã dần bước ra khỏi bóng tối của nỗi đau để tìm lại niềm vui trong cuộc sống. Qua câu chuyện ấy, Vũ Thị Huyền Trang đã gửi gắm một thông điệp giản dị mà sâu sắc: trong những hoàn cảnh khó khăn nhất, lòng nhân ái vẫn có thể nảy nở như những cánh hoa mùa xuân. Và đôi khi, chính từ những vết thương của số phận, hoa đào của hạnh phúc lại lặng lẽ nở trên vai con người.

#hocvanbangcongthuc #cogiaodieuthu #hocvancodieuthu #hoadaonotrenvai #vuthihuyentrang #vanhoc #phantichvanhoc #nghiluanvanhoc #NLVH #phantichtruyen

Khóa học ngữ văn

Xem chi tiết
Xem chi tiết
Xem chi tiết
Xem chi tiết
Xem chi tiết
Xem chi tiết
Xem chi tiết