PHÂN TÍCH “QUANG TRUNG ĐẠI PHÁ QUÂN THANH” CỦA NGÔ GIA VĂN PHÁI

Học văn Cô Diệu Thu giới thiệu bài viết phân tích hình tượng người anh hùng Quang Trung – Nguyễn Huệ trong đoạn trích “Quang Trung đại phá quân Thanh” thuộc Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô gia văn phái. Qua những chiến công thần tốc cùng hàng loạt hành động, lời nói và cách ứng xử, hình tượng Quang Trung hiện lên với lòng yêu nước sâu sắc, bản lĩnh quyết đoán, tài thao lược, khả năng thu phục lòng người và tầm nhìn xa trông rộng.
VĂN BẢN:
Đánh Ngọc Hồi, quân Thanh bị thua trận
Bỏ Thăng Long, Chiêu Thống trốn ra ngoài
(Đoạn đầu của hồi này nói về việc Tôn Sĩ Nghị kéo quân vào Thăng Long, thấy dễ dàng, cho là vô sự, không đề phòng gì cả. Điều đó làm cho vua tôi Lê Chiêu Thống, vốn đã biết rất rõ tài cầm quân của Nguyễn Huệ, rất lo lắng.)
Nhắc lại, Ngô Văn Sở sau khi đem các đạo quân rút lui, tức tốc sai Nguyễn Văn Tuyết chạy trạm vào Nam cáo cấp. Một mặt, chặn ngang đất Trường Yên làm giới hạn, đóng thuỷ quân ở hải phận Biện Sơn, quân bộ thì chia giữ vùng núi Tam Điệp, hai mặt thuỷ bộ liên lạc với nhau, ngăn hẳn miền Nam với miền Bắc. Vì thế, việc ở bốn trấn Đàng Ngoài không hề thấu đến hai xứ Thanh, Nghệ. Vì vậy việc quân Thanh đến Thăng Long và việc vua Lê thụ phong7 ngày 22 tháng 11, từ Thanh Hoá trở vào, không một người nào được biết. Ngày 20 tháng ấy, Sở lui về Tam Điệp, thì ngày 24 Tuyết đã vào đến thành Phú Xuân. Bắc Bình Vương tiếp được tin báo, giận lắm, liền họp các tướng sĩ, định thân chinh cầm quân đi ngay. Nhưng các người đến họp đều nói:
– Chúa công với vua Tây Sơn có sự hiềm khích, đối với ngôi chí tôn, lòng tôn phò của mọi người chưa thật vững bền, nay nghe quân Thanh sang đánh, càng dễ sinh ra ngờ vực hai lòng. Vậy xin trước hết hãy chính vị hiệu4, ban lệnh ân xá khắp trong ngoài, để yên kẻ phản trắc và giữ lấy lòng người, rồi sau sẽ cất quân ra đánh dẹp cõi Bắc cũng chưa là muộn.
Bắc Bình Vương lấy làm phải, bèn cho đắp đàn ở trên núi Bân, tế cáo trời đất cùng các thần sông, thần núi; chế ra áo cổn mũ miện, lên ngôi hoàng đế, đổi năm thứ 11 niên hiệu Thái Đức của vua Tây Sơn Nguyễn Nhạc làm năm đầu niên hiệu Quang Trung. Lễ xong, hạ lệnh xuất quân, hôm ấy nhằm vào ngày 25 tháng Chạp năm Mậu Thân (1788).
Vua Quang Trung tự mình đốc suất đại binh, cả thuỷ lẫn bộ cùng ra đi. Ngày 29 đến Nghệ An, vua Quang Trung cho vời người cống sĩ ở huyện La Sơn là Nguyễn Thiếp vào dinh và hỏi:
– Quân Thanh sang đánh, tôi sắp đem binh ra chống cự. Mưu đánh và giữ, cơ được hay thua, tiên sinh nghĩ như thế nào?
Thiếp nói:
– Bây giờ trong nước trống không, lòng người tan rã. Quân Thanh ở xa tới đây, không biết tình hình quân ta yếu hay mạnh, không hiểu rõ thế nên đánh nên giữ ra sao. Chúa công đi ra chuyến này, không quá mười ngày, quân Thanh sẽ bị dẹp tan.
Vua Quang Trung mừng lắm, liền sai đại tướng là Hám Hổ Hầu kén lính ở Nghệ An, cứ ba suất đinh thì lấy một người, chưa mấy lúc, đã được hơn một vạn quân tinh nhuệ. Rồi nhà vua cho mở cuộc duyệt binh lớn ở doanh trấn, đem số thân quân ở Thuận Hóa, Quảng Nam chia làm bốn donah tiền, hậu, tả, hữu, còn số lính mới tuyển ở Nghệ An thì làm trung tâm.
Vua Quang Trung cưỡi voi ra doanh yêu ủi quân lính, truyền cho tất cả đều ngồi mà nghe lệnh, rồi dụ họ rằng:
– Quân Thanh sang xâm lấn nước ta, hiện ở Thăng Long, các ngươi đã biết chưa? Trong khoảng vũ trụ, đất nào sao ấy đều đã phân biệt rõ ràng, phương Nam, phương Bắc chia nhau mà cai trị. Người phương Bắc3 không phải nòi giống nước ta, bụng dạ ắt khác. Từ đời nhà Hán đến nay, chúng đã mấy phen cướp bóc nước ta, giết hại nhân dân, vơ vét của cải, người mình không thể chịu nổi, ai cũng muốn đuổi chúng đi. Đời Hán có Trưng Nữ Vương, đời Tống có Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành, đời Nguyên có Trần Hưng Đạo, đời Minh có Lê Thái Tổ; các ngài không nỡ ngồi nhìn chúng làm điều tàn bạo, nên đã thuận lòng người, dấy nghĩa quân, đều chỉ đánh một trận là thắng và đuổi được chúng về phương Bắc. Ở các thời ấy, Bắc, Nam riêng phận, bờ cõi lặng yên, các vua truyền ngôi lâu dài. Từ đời nhà Đinh tới đây, dân ta không đến nỗi khổ như hồi nội thuộc xưa kia. Mọi việc lợi, hại, được, mất ấy, đều là chuyện cũ rành rành của các triều đại trước. Nay người Thanh lại sang, mưu đồ lấy nước Nam ta đặt làm quận huyện, không biết trông gương mấy đời Tống, Nguyên, Minh ngày xưa. Vì vậy ta phải kéo quân ra đánh đuổi chúng. Các ngươi đều là những kẻ có lương tri lương năng, hãy nên cùng ta đồng tâm hiệp lực, để dựng nên công lớn. Chớ có quen theo thói cũ, ăn ở hai lòng, nếu như việc phát giác ra, sẽ bị giết chết ngay tức khắc, không tha một ai, chớ bảo là ta không nói trước!
Các quân lính đều nói: “Xin vâng lệnh, không dám hai lòng!”.
Hôm sau, vua Quang Trung hạ lệnh tiến quân. Các quân đều nghiêm chỉnh đội ngũ mà đi. Khi đến núi Tam Điệp, Sở và Lân ra đón, đều mang gươm trên lưng mà xin chịu tội.
Vua Quang Trung nói:
– Các ngươi đem thân thờ ta, đã làm đến chức tướng soái. Ta giao cho toàn hạt cả 11 thừa tuyên, lại cho tuỳ tiện làm việc. Vậy mà giặc đến không đánh nổi một trận, mới nghe tiếng đã chạy trước. Binh pháp dạy rằng: “Quân thua chém tướng”. Tội của các ngươi đều đáng chết một vạn lần. Song ta nghĩ các ngươi đều là hạng võ dũng, chỉ biết gặp giặc là đánh, đến như việc tuỳ cơ ứng biến thì không có tài. Cho nên, ta để Ngô Thì Nhậm ở lại đấy làm việc với các ngươi, chính là lo về điều đó. Bắc Hà mới yên, lòng người chưa phục, Thăng Long lại là nơi bị đánh cả bốn mặt, không có sông núi để nương tựa. Năm trước ta ra đánh đất ấy, chúa Trịnh quả nhiên không thể chống nổi, đó là chứng cớ rõ ràng. Các người đóng quân trơ trọi ở đấy, quân Thanh kéo sang, người trong kinh kì làm nội ứng cho chúng, thì các ngươi làm sao mà cử động được? Các ngươi đã biết nín nhịn để tránh mũi nhọn của chúng, chia ra chặn giữ các nơi hiểm yếu, bên trong thì kích thích lòng quân, bên ngoài thì làm cho giặc kiêu căng, kế ấy là rất đúng. Khi mới nghe nói, ta đã đoán là do Ngô Thì Nhậm chủ mưu, sau hỏi Văn Tuyết thì quả đúng như vậy…
Thì Nhậm bèn lạy hai lạy để tạ ơn. Vua Quang Trung lại nói:
– Lần này ta ra, thân hành cầm quân, phương lược tiến đánh đã có tính sẵn. Chẳng qua mươi ngày có thể đuổi được người Thanh. Nhưng nghĩ chúng là nước lớn gấp mười nước mình, sau khi bị thua một trận, ắt lấy làm thẹn mà lo mưu báo thù. Như thế thì việc binh đao không bao giờ dứt, không phải là phúc cho dân, nỡ nào mà làm như vậy. Đến lúc ấy, chỉ có người khéo lời lẽ mới dẹp nổi việc binh đao, không phải Ngô Thì Nhậm thì không ai làm được. Chờ mười năm nữa, cho ta được yên ổn mà nuôi dưỡng lực lượng, bấy giờ nước giàu quân mạnh, thì ta có sợ gì chúng?
Bọn Sở, Lân đều lạy tạ và nói:
– Chúa thượng thật là lo xa, chúng tôi ngu dại không thể nghĩ tới chỗ đó. Hiện nay phương lược tiến đánh ra sao, xin chúa thượng nhất nhất chỉ rõ để chúng tôi tuân theo mà làm.
Vua Quang Trung bèn sai mở tiệc khao quân, chia quân sĩ ra làm năm đạo, hôm đó là ngày 30 tháng Chạp. Rồi nhà vua bảo kín với các tướng rằng:
– Ta với các ngươi hãy tạm sửa lễ cúng Tết trước đã. Đến tối 30 Tết lập tức lên đường, hẹn đến ngày mồng 7 năm mới thì vào thành Thăng Long mở tiệc ăn mừng. Các ngươi nhớ lấy, đừng cho là ta nói khoác!
[…] Cả năm đạo quân đều lạy vâng mệnh lệnh, đúng ngày, gióng trống lên đường ra Bắc.
Khi quân ra đến sông Gián, nghĩa binh trấn thủ ở đó tan vỡ chạy trước. Lúc đến sông Thanh Quyết, toán quân Thanh đi do thám từ đằng xa trông thấy bóng cũng chạy nốt. Vua Quang Trung liền thúc quân đuổi theo, tới huyện Phú Xuyên thì bắt sống được hết, không để tên nào trốn thoát. Bởi vậy, không hề có ai chạy về báo tin, nên những đạo quân Thanh đóng ở Hà Hồi đều không biết gì cả.
Nửa đêm ngày mồng 3 tháng Giêng, năm Ki Dậu (1789), vua Quang Trung tới làng Hà Hồi, huyện Thượng Phúc, lặng lẽ vây kín làng ấy, rồi bắc loa truyền gọi, tiếng quân lính luân phiên nhau dạ ran để hưởng ứng, nghe như có hơn vài vạn người. Trong đồn lúc ấy mới biết, ai nấy rụng rời sợ hãi, liền xin ra hàng, lương thực khí giới đều bị quân Nam lấy hết.
Vua Quang Trung lại truyền lấy sáu chục tấm ván, cứ ghép liền ba tấm làm một bức, bên ngoài lấy rơm dấp nước phủ kín, tất cả là hai mươi bức. Đoạn kén hạng lính khoẻ mạnh, cứ mười người khênh một bức, lưng giắt dao ngắn; hai mươi người khác đều cầm binh khí theo sau, dàn thành trận chữ “nhất”; vua Quang Trung cưỡi voi đi đốc thúc, mờ sáng ngày mồng 5 tiến sát đồn Ngọc Hồi. Quân Thanh nổ súng bắn ra, chẳng trúng người nào cả. Nhân có gió bắc, quân Thanh bèn dùng ống phun khói lửa ra, khói toả mù trời, cách gang tấc không thấy gì, hòng làm cho quân Nam rối loạn. Không ngờ trong chốc lát trời bỗng trở gió nam, thành ra quân Thanh lại tự làm hại mình.
Vua Quang Trung liền gấp rút sai đội khiêng ván vừa che vừa xông thẳng lên trước. Khi gươm giáo của hai bên đã chạm nhau thì quăng ván xuống đất, ai nấy cầm dao ngắn chém bừa; những người cầm binh khí theo sau cũng nhất tề xông tới mà đánh. Quân Thanh chống không nổi, bỏ chạy tán loạn, giày xéo lên nhau mà chết. Tên Thái thú Điền Châu là Sầm Nghi Đống tự thắt cổ chết […]. Quân Thanh đại bại.
Trước đó, vua Quang Trung đã sai một toán quân theo bờ đê Yên Duyên kéo lên, mở cờ gióng trống để làm nghỉ binh ở phía đông. Đến lúc ấy, quân Thanh chạy về trông thấy, càng thêm hoảng sợ, bèn tìm lối tắt theo đường Vịnh Kiều mà trốn. Chợt lại thấy quân voi từ Đại Áng tới, quân Thanh đều hết hồn hết vía, vội trốn xuống đầm Mực, làng Quỳnh Đô, quân Tây Sơn lùa voi giày đạp, chết đến hàng vạn người. Giữa trưa hôm ấy vua Quang Trung tiến binh đến Thăng Long, rồi kéo vào thành.
[…] Lại nói, Tôn Sĩ Nghị và vua Lê ở thành Thăng Long, tuyệt nhiên không nghe tin cấp báo gì cả cho nên trong ngày Tết mọi người chỉ chăm chú vào việc yến tiệc vui mừng, không hề lo chỉ đến việc bất trắc. Nào hay cuộc vui chưa tàn, cơ trời đã đổi. Ngày mồng 4 bỗng thấy quân ở đồn Ngọc Hồi chạy về cáo cấp. Thật là: “Tướng ở trên trời xuống, quân chui dưới đất lên”.
[….] Tôn Sĩ Nghị sợ mất mật, ngựa không kịp đóng yên, người không kịp mặc giáp, dẫn bọn lính kị mã của mình chuồn trước qua cầu phao, rồi nhằm hướng bắc mà chạy. Quân sĩ các doanh nghe tin, đều hoảng hồn, tan tác bỏ chạy, tranh nhau qua cầu sang sông, xô đẩy nhau rơi xuống mà chết rất nhiều. Lát sau cầu lại bị đứt, quân lính đều rơi xuống nước, đến nỗi nước sông Nhĩ Hà vì thế mà tắc nghẽn không chảy được nữa.
Vua Lê ở trong điện, nghe tin có việc biến ấy, vội vã cùng bọn Lê Quýnh, Trịnh Hiến đưa thái hậu ra ngoài. Cả bọn chạy đến bến sông thì thấy cầu phao đã đứt, thuyền bè cũng không, bèn gấp rút chạy đến Nghi Tàm, thình lình gặp được chiếc thuyền đánh cá, vội cướp lấy rồi chèo sang bờ bắc. Trưa ngày mồng 6, vua Lê và những người tuỳ tòng chạy đến núi Tam Tằng, nghe nói Tôn Sĩ Nghị đã đi khỏi đó. Bấy giờ quân Thanh chạy về nước, trên đường đông nghịt như chợ, đêm ngày đi gấp, không dám nghỉ ngơi. Vua đưa thái hậu cùng đi với họ đến đồn Hoà Lạc thì gặp một người thổ hào. Hồi trước vua Lê chạy ra ngoài, người ấy đã được biết mặt; lúc đó thấy vua, người ấy bất giác rơi lệ, nhân tiện mời vua vào trại trong núi tạm nghỉ. Bấy giờ, vua Lê và những người tuỳ tòng luôn mấy ngày không ăn, ai nấy đều đã mệt lử. Người thổ hào kia liền giết gà làm cơm thết đãi. Vua sai bưng một mâm lên mời thái hậu; còn mình thì cùng ăn với bọn Quýnh, Hiến ở mâm dưới.
Ăn vừa xong, chợt nghe tin quân Tây Sơn đã đuổi theo đến nơi. Vua cuống quýt bảo người thổ hào rằng:
– Muôn đội hậu tình, không có gì để báo đáp, chỉ có trời cao đất dày chứng giám tấc lòng thành của ông mà ban phúc cho thôi. Bây giờ quân giặc gần tới, trước mắt đây có con đường sống nào có thể chạy gấp lên cửa ải, xin tính kế ngay cho.
Người thổ hào vội vã sai con đưa đường, theo lối tắt trong núi mà đi. Trời nhá nhem tối thì nhà vua đến cửa ải, theo kịp chỗ nghỉ của Tôn Sĩ Nghị. Một lát các viên quan khác cũng lục tục theo đến, cùng nhìn nhau than thở, oán giận chảy nước mắt. Tôn Sĩ Nghị cũng lấy làm xấu hổ.
(Ngô gia văn phái, Hoàng Lê nhất thống chí, tập II, Nguyễn Đức Vân – Kiều Thu Hoạch dịch,
NXB Văn học, Hà Nội, 1984, tr. 177 – 187)
PHÂN TÍCH:

Lịch sử dân tộc Việt Nam đã ghi dấu biết bao con người làm nên những chiến công lớn lao bằng tài năng, ý chí và khát vọng bảo vệ non sông. Trong số đó, Quang Trung – Nguyễn Huệ là một biểu tượng rực rỡ của bản lĩnh và khí phách Đại Việt. Qua đoạn trích “Quang Trung đại phá quân Thanh” thuộc Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô gia văn phái, nhân vật Quang Trung hiện lên với tầm vóc phi thường: một vị vua quyết đoán, một nhà quân sự tài ba, một con người có khả năng thu phục lòng người và một nhà lãnh đạo có tầm nhìn sâu rộng. Đặc biệt, chiến thắng thần tốc trước quân Thanh đã làm nổi bật vẻ đẹp của người anh hùng áo vải trong một thời khắc trọng đại của lịch sử dân tộc.

Trước hết, Quang Trung là một con người quyết đoán, mạnh mẽ và luôn đặt vận mệnh đất nước lên hàng đầu. Khi nghe tin quân Thanh kéo vào Thăng Long, ông lập tức “giận lắm”, họp các tướng sĩ và quyết định thân chinh cầm quân ra Bắc. Trong hoàn cảnh đất nước đứng trước nguy cơ bị ngoại bang xâm lược, sự quyết đoán ấy cho thấy bản lĩnh của một người lãnh đạo không né tránh trách nhiệm. Tuy nhiên, Quang Trung không hành động theo sự nóng vội. Ông nghe lời các tướng sĩ, lên ngôi hoàng đế, lấy niên hiệu Quang Trung rồi mới chính thức xuất quân. Việc làm ấy cho thấy ông hiểu rằng muốn chống giặc ngoại xâm trước hết phải thống nhất ý chí, củng cố lòng người và tạo nên một trung tâm lãnh đạo đủ sức quy tụ toàn dân. Văn bản đã dán (1)

Sau khi lên ngôi, Quang Trung thể hiện rõ tài năng tổ chức và năng lực cầm quân xuất chúng. Trên đường tiến ra Bắc, ông không ngừng củng cố lực lượng. Đến Nghệ An, nhà vua cho tuyển thêm hơn một vạn quân tinh nhuệ, tổ chức duyệt binh, sắp xếp quân đội thành các doanh tiền, hậu, tả, hữu và trung tâm. Mọi công việc đều được tiến hành nhanh chóng nhưng có trật tự, cho thấy khả năng tổ chức chiến tranh vô cùng linh hoạt của vị tướng tài. Văn bản đã dán (1)

Đặc biệt, tài năng của Quang Trung còn được thể hiện ở khả năng nhìn người và nhìn thế trận. Khi Sở và Lân đến xin chịu tội vì đã rút quân, ông không chỉ nhìn vào kết quả trước mắt mà phân tích cặn kẽ nguyên nhân. Ông hiểu rằng trước một đạo quân Thanh đông và mạnh, việc cố thủ ở Thăng Long trong tình thế bất lợi có thể dẫn đến thất bại. Vì thế, rút lui về Tam Điệp, chia quân giữ các vị trí hiểm yếu, vừa bảo toàn lực lượng vừa khiến quân Thanh chủ quan thực chất là một kế sách hợp lý. Qua cách xử trí ấy, Quang Trung hiện lên không chỉ là vị tướng biết đánh trận mà còn là người có tư duy chiến lược sắc bén, biết tùy cơ ứng biến và biết trọng dụng người tài. Văn bản đã dán (1)

Không chỉ giỏi cầm quân, Quang Trung còn là một nhà lãnh đạo có tài thu phục lòng người. Trước khi bước vào trận chiến, ông trực tiếp cưỡi voi ra doanh trại, yên ủi quân lính và nói với họ về tình thế đất nước. Bài dụ quân của ông vừa đanh thép, vừa giàu sức thuyết phục. Ông khẳng định ranh giới độc lập giữa phương Nam và phương Bắc, nhắc lại những trang sử chống ngoại xâm vẻ vang của dân tộc, từ Hai Bà Trưng, Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành đến Trần Hưng Đạo, Lê Thái Tổ. Từ những chiến công của cha ông, Quang Trung khơi dậy trong binh sĩ lòng tự hào dân tộc và ý thức trách nhiệm với non sông. Ông kêu gọi họ cùng mình “đồng tâm hiệp lực” để lập công lớn. Chính vì vậy, quân sĩ đều đồng lòng thề không hai lòng. Văn bản đã dán (1)

Lời dụ quân ấy còn cho thấy lòng yêu nước và ý thức sâu sắc về chủ quyền dân tộc của Quang Trung. Đối với ông, cuộc chiến không phải là cuộc tranh giành quyền lực đơn thuần mà là cuộc chiến bảo vệ đất nước trước âm mưu xâm lược. Quang Trung hiểu rằng muốn chiến thắng một kẻ thù mạnh hơn, trước hết phải đánh thức sức mạnh tinh thần của quân đội. Chính tinh thần dân tộc, lòng tự hào về truyền thống chống ngoại xâm đã trở thành nguồn sức mạnh giúp quân Tây Sơn chiến đấu với khí thế áp đảo.

Nếu trí tuệ giúp Quang Trung xây dựng chiến lược thì bản lĩnh và tài thao lược giúp ông biến chiến lược ấy thành chiến thắng. Ông đưa ra một kế hoạch hành quân thần tốc đến mức tưởng như không thể: tối 30 Tết xuất quân và hẹn đến mồng 7 năm mới sẽ tiến vào Thăng Long mở tiệc ăn mừng. Ông còn căn dặn các tướng không được cho rằng mình “nói khoác”. Nhưng lời hẹn ấy cuối cùng đã trở thành sự thật. Quân Tây Sơn tiến quân với tốc độ vũ bão, liên tiếp đánh tan các đồn giặc. Văn bản đã dán (1)

Đến Hà Hồi, Quang Trung cho quân bí mật bao vây, sau đó dùng tiếng hô hưởng ứng vang dội khiến quân Thanh khiếp sợ và phải xin hàng. Đến Ngọc Hồi, ông tiếp tục thể hiện tài chỉ huy đặc biệt. Nhà vua cho làm những tấm ván lớn, phủ rơm dấp nước để che chắn cho quân lính, rồi trực tiếp cưỡi voi đốc thúc quân tiến lên. Khi thời cơ xuất hiện, ông lập tức ra lệnh xông thẳng vào trận địa. Quân Tây Sơn đánh mạnh khiến quân Thanh không chống nổi, phải bỏ chạy tán loạn. Văn bản đã dán (1)

Những chi tiết ấy khiến hình tượng Quang Trung hiện lên vô cùng oai phong, quyết liệt và giàu khí phách. Ông không phải một vị tướng chỉ ngồi sau hậu phương điều khiển trận đánh mà luôn trực tiếp xuất hiện ở nơi quyết định nhất. Hình ảnh nhà vua “cưỡi voi đi đốc thúc” quân sĩ vừa mang vẻ đẹp hào hùng của người anh hùng trận mạc, vừa thể hiện tinh thần dám chịu trách nhiệm, dám đối diện với hiểm nguy. Tốc độ hành quân thần tốc cùng những mệnh lệnh quyết đoán của ông đã tạo nên sức mạnh áp đảo, khiến quân Thanh từ thế chủ quan nhanh chóng rơi vào cảnh hoảng loạn, tan tác.

Chiến thắng của Quang Trung càng trở nên rực rỡ khi đặt trong sự đối lập với sự chủ quan của quân Thanh. Trong khi quân Tây Sơn bí mật chuẩn bị và liên tục tiến công thì Tôn Sĩ Nghị cùng quân Thanh vẫn chìm trong những cuộc yến tiệc ở Thăng Long. Đến khi nhận được tin cấp báo, mọi chuyện đã quá muộn. Quân Thanh hoảng hốt tháo chạy, Tôn Sĩ Nghị thậm chí “ngựa không kịp đóng yên, người không kịp mặc giáp” mà bỏ chạy về phương Bắc. Văn bản đã dán (1) Sự thất bại thảm hại của quân Thanh càng làm nổi bật tài năng và bản lĩnh của người anh hùng Quang Trung.

Đằng sau một vị tướng quyết liệt trên chiến trường còn là một nhà lãnh đạo có tầm nhìn xa và ý thức sâu sắc về tương lai đất nước. Quang Trung hiểu rằng chiến thắng quân Thanh mới chỉ là bước đầu. Ông dự liệu rằng vì là một nước lớn, quân Thanh có thể tìm cách báo thù sau thất bại. Bởi vậy, ông không muốn đất nước tiếp tục chìm trong chiến tranh. Ông dự định sau chiến thắng sẽ dùng người có tài ngoại giao để dẹp yên binh đao, đồng thời tranh thủ thời gian xây dựng lực lượng, làm cho “nước giàu quân mạnh”. Văn bản đã dán (1)

Chi tiết ấy khiến hình tượng Quang Trung trở nên sâu sắc hơn. Ông đánh giặc không phải vì ham mê chiến công mà vì độc lập, hòa bình và sự phát triển lâu dài của đất nước. Trong con người vị vua ấy có sự kết hợp hài hòa giữa khí phách của một người anh hùng và tầm nhìn của một nhà lãnh đạo. Ông biết khi nào cần chiến đấu, biết cách chiến đấu và cũng hiểu rằng mục đích cuối cùng của chiến tranh chính nghĩa là đưa đất nước trở lại cuộc sống yên bình.

Bên cạnh nội dung đặc sắc, thành công của đoạn trích còn nằm ở nghệ thuật xây dựng nhân vật và kể chuyện giàu sức hấp dẫn. Quang Trung không được giới thiệu bằng những lời ca ngợi trực tiếp mà được khắc họa qua hành động, lời nói, cách ứng xử và đặc biệt là những chiến công cụ thể. Nhịp kể nhanh, dồn dập cùng hàng loạt mốc thời gian, địa danh đã tái hiện chân thực khí thế thần tốc của cuộc hành quân. Hình tượng nhân vật được đặt trong nhiều tình huống khác nhau, từ việc quyết định lên ngôi, tuyển quân, dụ quân, xử trí tướng sĩ đến trực tiếp chỉ huy chiến trận. Nhờ vậy, vẻ đẹp của Quang Trung hiện lên toàn diện và thuyết phục. Văn bản đã dán (1)

Có thể nói, Quang Trung – Nguyễn Huệ trong “Quang Trung đại phá quân Thanh” là hình tượng hội tụ vẻ đẹp của người anh hùng dân tộc. Đó là một con người có lòng yêu nước sâu sắc, ý chí quyết đoán, trí tuệ quân sự sắc bén, tài thu phục lòng người, khả năng chỉ huy thần tốc và tầm nhìn chiến lược vượt xa hoàn cảnh trước mắt. Qua hình tượng ấy, đoạn trích không chỉ tái hiện một chiến thắng vang dội của dân tộc mà còn làm sống dậy khí thế hào hùng của một thời đại. Quang Trung hiện lên như một ngọn lửa lớn giữa thời khắc lịch sử dữ dội, càng đứng trước thử thách càng tỏa sáng bản lĩnh và trí tuệ. Hình tượng người anh hùng áo vải vì thế không chỉ làm nên sức hấp dẫn cho Hoàng Lê nhất thống chí mà còn góp phần lưu giữ trong văn học Việt Nam một biểu tượng đẹp về khí phách, trí tuệ và sức mạnh của dân tộc trước ngoại xâm.

Khóa học ngữ văn

Xem chi tiết
Xem chi tiết
Xem chi tiết
Xem chi tiết
Xem chi tiết
Xem chi tiết
Xem chi tiết