Học văn Cô Diệu Thu giới thiệu đoạn trích “Đi lấy mật” của Đoàn Giỏi – một trang văn đậm hương sắc phương Nam, đưa người đọc theo bước chân cậu bé An khám phá rừng tràm U Minh và nghề gác kèo ong độc đáo của người dân Nam Bộ. Qua ngòi bút quan sát tinh tế, giàu cảm xúc của nhà văn, thiên nhiên hiện lên vừa nguyên sơ, thơ mộng vừa tràn đầy sức sống; đồng thời làm nổi bật vẻ đẹp của những con người lao động chất phác, giàu kinh nghiệm và gắn bó sâu sắc với đất rừng. Không chỉ là câu chuyện về một chuyến đi lấy mật, tác phẩm còn là lời ngợi ca vẻ đẹp thiên nhiên, văn hóa và con người phương Nam, để lại trong lòng người đọc nhiều rung cảm về quê hương đất nước.

ĐOẠN TRÍCH:
Buổi sáng, đất rừng thật là yên tĩnh. Trời không gió, nhưng không khí vẫn mát lạnh. Cái lành lạnh của hơi nước sông ngòi, mương rạch, của đất ấm và dưỡng khí thảo mộc thở ra từ bình minh. Ánh sáng trong vắt, hơi gợn một chút óng ánh trên những đầu hoa tràm rung rung, khiến ta nhìn cái gì cũng có cảm giác như là nó bao qua một lớp thủy tinh.
Tía nuôi tôi đi trước, bên hông lủng lẳng chiếc túi da beo, lưng mang cái gùi bằng tre đan đã trát chai, tay cầm chà gạc. Lâu lâu, ông vung tay lên một cái, đưa con dao rừng rất sắc phạt ngang một nhánh gai và dùng cái mẩu cong ở đầu lưỡi dao dài có đến sáu bảy tấc ấy lôi phăng nhánh gai chắn đường vứt ra một bên để lấy lối đi. Thằng Cò đội cải thủng to tướng, trong thúng đựng một vò nước, mấy gói cơm nắm và cái áo ướt mồ hôi nó vừa cởi ra cuộn lại, trên thúng úp chiếc nón lá rách. Tôi đã chen vào giữa, quảy tòn ten một cái gùi bé mà má nuôi tôi đã bơi xuồng đi mượn của nhà ai ngoài xóm bìa rừng từ chiều hôm qua. Con Luốc chạy tung tăng sục sạo trong các bụi cây.
Lần đầu tiên tôi theo tía nuôi tôi và thằng Cò đi “ăn ong” đây! Mấy hôm trước, má nuôi tôi đã kể tỉ mỉ cho tôi nghe cách gác kèo ong thế nào, nhưng tôi vẫn chưa hình dung được “ăn ong” ra sao. Những điều má nuôi tôi kể, trong các sách giáo khoa không thấy nói. Khoa học tự nhiên ở trường chỉ mới cho tôi một khái niệm chung chung về xã hội loài ong, ve những lợi ích của con ong, đại khái vậy thôi. Hiển nhiên từ những thời xa xôi thuở con người ăn lông ở lỗ cho đến ngày nay, người ta vẫn đi tìm lấy mật rừng bằng cách theo dấu đường bay của những con ong về tổ. Người ta phải khó nhọc lắm mới đưa được con ong rừng về nuôi thành con ong nhà, vì như thế, việc lấy mật sẽ dễ dàng và bảo đảm hơn.
Trong kho tàng kinh nghiệm của những nhà nuôi ong trên thế giới ghi chép trong các sách vở mà tôi được nghe thấy giáo tôi kể, không thấy có nơi nào nói đến việc lấy mật bằng cách gác kèo như má nuôi tôi đã bảo cho tôi nghe vừa rồi.
– Thôi, dừng lại nghỉ một lát. Bao giờ thằng An đỡ mệt, ăn cơm xong hẵng đi! – Tía nuôi tôi ra lệnh cho chúng tôi như vậy.
Quả là tôi đã mệt thật. Tía nuôi tôi chỉ nghe tôi đằng sau lưng ông thôi mà biết chứ ông có quay lại nhìn
tôi đâu! Chúng tôi đã bơi xuồng đi từ lúc gà vừa gáy rộ canh tư. Thằng Cò thì coi bộ chưa thấm tháp gì. Cặp chân của nó như bộ giò nai, lội suốt ngày trong rừng còn chả mùi gì nữa là!
Tía nuôi tôi ngồi tựa lưng vào một gốc cây ngái, nhồi thuốc lá vào tẩu. Con chó săn trung thành bao giờ cũng ngồi bảo vệ bên chân chủ. Thằng Cò bưng vò nước ra, ngừa cổ kề miệng vào vò uống nước ừng ực. Bỗng nó đặt vò nước xuống, thúc vào lưng tôi
– Đố mày biết con ong mật là con nào?
Hỏi xong, nó đưa tay trỏ lên phía trước mặt. Tôi đảo mắt nhìn khắp nơi vẫn không thấy gì. Rừng cây im lặng quá. Một tiếng lá rơi lúc này cũng có thể khiến người ta giật mình. Lạ quá, chim chóc chẳng nghe con nào kêu. Hay vẫn có tiếng chim ở một nơi xa lắm, vì không chú ý mà tôi không nghe chăng?
Cao quá đầu tôi một với tay, có những chấm đen không nhúc nhích. Đó là ruồi xanh đang bay đứng. Óng ánh lướt những lá bông súng dưới vũng kia là con chuồn chuồn bay ngang với những cánh mỏng và dài. Bé như hạt khế, cứ lắc lư lắc lư từ đất nhoi lên và đáp vào một cành ngải khô trên đầu tía nuôi tôi là điệu bay của con mối cánh.
– Chịu thua mày đó! Tao không thấy con ong mật đâu cả.
Thằng Cò nghe tôi chịu thua, nó bèn vênh mặt lên cười, quay sang tôi:
– Bây giờ mày cứ nhìn kĩ vào khoảng cách giữa hai nhánh tràm cao kia! Ờ! Đúng rồi. Nhìn một chỗ trống ấy.
Đã lâu lắm mà sao tôi chưa thấy gì cả. Tôi vừa toan đứng dậy thì tía nuôi tôi đã đến cầm tay tôi trỏ lên:
– Đó, con thấy nó chưa?
– Thấy rồi!
Tôi kêu khe khẽ. Ờ, phải rồi! Phải hết sức tinh mắt, thính tai mới tìm được những tay sứ giả của bình minh này. Một con… hai con… ba con… Rồi một đàn mười mấy bay nối nhau như một xâu chuỗi hạt cườm, trong những tầng xanh cây lá, có một cái chấm nâu đen cỡ đầu đũa vụt qua rất nhanh. Trên những ngọn tràm cao, đang lướt qua một đàn li ti như nắm trấu bay, phát ra những tiếng kêu eo… eo…
Chúng tôi giở những nắm cơm vắt ra. Ăn xong, bấy giờ bóng nắng mới bắt đầu lên. Gió cũng bắt đầu thổi rao rao theo với khối mặt trời tròn đang tuôn ánh sáng vàng rực xuống mặt đất. Một làn hơi đất nhè nhẹ tỏa lên, phủ mờ những bụi cây cúc áo, rồi nhè nhẹ tan dần theo hơi ấm mặt trời. Phút yên tĩnh của rừng ban mai dần dần biến đi. Chim hót líu lo. Nắng bốc hương hoa tràm thơm ngây ngất. Gió đưa mùi hương
ngọt lan ra, phảng phất khắp rừng. Mấy con kì nhông nằm vươn mình phơi lưng trên gốc cây mục, sắc da lưng luôn luôn biến đổi từ xanh hóa vàng, từ vàng hóa đỏ, từ đỏ hoá tím xanh,… Con Luốc động đậy cánh mũi, rón rén mò tới. Nghe động tiếng chân con chó săn nguy hiểm, những con vật thuộc loại bò sát bốn chân, to hơn ngón chân cái kia, liền quật chiếc đuôi dài chạy tứ tán. Con núp chỗ gốc cây thì biến thành màu xám vỏ cây. Con đeo trên tấm lá ngái thì biến ra màu xanh lá ngái.
Chúng tôi tiếp tục đi tới một cái trảng rộng. Giữa vùng cỏ tranh khô vàng, gió thổi lao xao, một bầy chim hàng nghìn con vọt cất cánh bay lên. Chim áo già màu nâu, chim manh manh mỏ đỏ bóng như màu thuốc đánh móng tay, lại có bộ lông xám tro điểm những chấm trắng chấm đỏ li ti rất đẹp mắt… Những con chim nhỏ bay vù vù kêu líu ríu lượn vòng trên cao một chốc, lại đáp xuống phía sau lưng chúng tôi.
– Chim đẹp quá, Cò ơi! — Tôi tặc lưỡi, kêu lên.
– Thứ chim cỏ này mà đẹp gì!
– Ở đây chim nhiều quá. […]
– Thứ đồ bỏ, không ăn thua gì đâu. Mày mà gặp “sân chim” thì mày sẽ biết…
Nó nói một cách lơ là như vậy rồi cứ cắm cúi đội cái thúng đi. Tôi muốn hỏi về cái “sân chim”, nhưng vì tự ái và nghĩ nếu mình gặp cái gì cũng hỏi thì nó sẽ khinh mình dốt, bèn im im đi tới.
[…] Tôi chẳng hỏi gì thêm, cứ lặng thinh. Nó cũng không thèm chú ý đến vẻ mặt khó đăm đăm của tôi, cứ nắm tay tôi lôi đi, lại còn khoát tay ra hiệu bảo tôi đi thật khể Tôi nhìn theo ngón tay nó trỏ lên một kèo ong gác trên cây tràm thấp. Tổ ong kia rồi Sự mừng rỡ làm tôi quên phắt cái bực mình vừa qua. Tôi lại hỏi:
– Sao biết nó về cây này mà gác kèo?
– Thằng mau quên hé! Vậy chớ mấy bữa nay, má nói gì cho mày nghe đó? – Nó chành môi ra cười hì hì, trông cái miệng thấy ghét quá.
Tôi ngước nhìn tổ ong như thúng, lúc nhúc không biết bao nhiêu ong, dân dần nhớ lại lời má nuôi tôi kể.
– … Rừng thì mênh mông, biết bao nhiêu cây! Một cây còn biết bao nhiêu nhánh! Biết con ong sẽ đóng tổ
ở cây nào, nhánh nào? Có phải bạ chỗ nào nó cũng gởi mật đâu! Nhưng làm nghề nào rồi khắc phải thạo nghề ấy con ạ! – Má nuôi tôi đưa mắt trông ra những cánh rừng tràm lờ mờ khuất sau những bụi cây bình bát dại mọc quanh hè, ngẫm nghĩ một lúc rồi nói tiếp: – Gió thổi có hướng, cây tốt cũng có vùng. Chọn được vùng rừng tốt, biết rằng đến mùa xuân tràm sẽ kết nhiều hoa, mình mới định chỗ gác kẽo. Phải xem hướng gió, tính trước đường bay của ong mật. Đó là những chỗ “ấm”, cây dày, không bị ngọn gió thốc thẳng vào và ít khi có những dấu chân người đi bắt rắn, người đốn củi lội đến…
– Kèo là gì, hở má?
– Ờ, kèo cũng là nhánh tràm thôi. Nó to cỡ cổ tay, mang nhiều nhánh con tua tủa vào quãng giữa. Mình chặt lấy một khúc dài non thước tây, một đầu có cái nhánh con nhiều bóng năng kia! Con ong không thích đóng chỗ rợp. O những nơi đó, bao giờ mật dùng làm cái mấu. Chọn được vùng rồi, còn phải chọn cây nào vừa kín, vừa im, có ít cũng chua, dễ bị ẩm. Gác chiếc kèo chênh chếch lên cây tràm xong, phải “rửa” bớt những nhánh chung quanh để khi lấy mật khỏi vướng. Kèo chặt vào khoảng giữa tháng Mười một. Những cơn mưa muộn sẽ rửa hết mùi sắt ở hai đầu kèo bị dao rựa chặt, và nhánh kèo cũng đủ thời gian khô đi, cũ đi, giống với những nhánh khô khác trên cây. Kèo nào còn mùi sắt của con dao mới chặt thì con ong mật chúa kị, nó không bao giờ đóng tổ đâu…
– Coi bộ cũng không khó lắm hở má?
Má nuôi tôi vò đầu tôi, cười rất hiền lành. Tôi cũng cười theo. Bà đằng hắng, nói:
– Chẳng dễ đâu, con ạ! Nhiều người trở thành “dân ăn ong” đã năm mười năm trong nghề, vậy mà gác kèo xong tới mùa mật, mang gùi lên lưng vào rừng, lại mang gùi không trở về.
– Ủa! Tại sao vậy, má?
– Định không đúng chỗ, đoán sai hướng gió chứ sao!
Mắt tôi vẫn không rời tổ ong lúc nhúc trên cây tràm thấp kia. […] Tôi ngồi nhìn lên kèo ong, thấy nó cũng giống như những tổ ong rừng vẽ trong sách vậy thôi. Nhưng có điều khác là không phải ngẫu nhiên mà nó đóng trên một cành cây nào đó. Chính tía nuôi tôi đã định sẵn cho chúng nó một nơi về đóng tổ… Theo như lời thầy giáo của tôi bảo, người La Mã xưa kia nuôi ong trong những cái tổ bằng đồng hình chiếc vại, có đục thủng nhiều hàng lỗ Mễ Tây Cơ) làm tổ nuôi ong bằng đất lô con vòng quanh miệng, quanh đáy. Người nung, như một cái ống có hai cái loa hai đầu, giữa lưng ống đắp một hình đầu người nho nhỏ làm vật trang trí, dùng hai sợi thừng treo lên cành cây. Người Ai Cập nuôi ong trong những tổ bằng sành, hình ống dài, xếp chồng lên nhau, đặt trên bãi cỏ. Ở Phi châu người ta đục ruỗng một khúc thân cây, vít kín hai đầu, chỉ chừa một lỗ khoét nho nhỏ cho ong ra vào, treo lên bằng một đoạn dây nhỏ có mấu. Ở xứ Tây Âu, tổ ong lại lợp, bện bằng rơm đủ kiểu, hình thù khác nhau… Không có nơi nào, xứ nào có kiểu tổ
vùng U Minh này cả.
Những con ong vẫn nối cánh nhau bay đi bay về trên tổ, trước mặt chúng tôi kia. Con nào cũng lượn một vòng tròn trước khi đáp xuống. Người ta bảo rằng đó là vũ điệu báo hiệu của loài ong.
[..] Chúng tôi ngồi ăn cơm dưới một bụi cây tràm râm mát. Bóng nắng nghiêng nghiêng rọi chếch xuống chỗ tôi ngồi. Mấy con gầm ghì sắc lông màu xanh đang tranh nhau với bầy vẹt mỏ đỏ, giành mô những quả chín trên cây bồ đề. Lâu lâu, vài ba trái quả vàng rụng rơi lộp bộp, lăn vào cạnh chân tôi như hòn bi. rừng phương Nam,
(Đoàn Giỏi, Đất rừng phương Nam, NXB Văn học, Hà Nội, 2015, tr. 148-159)
PHÂN TÍCH:
Thiên nhiên luôn là nguồn cảm hứng bất tận của văn chương. Khi được nhìn bằng đôi mắt yêu thương và gắn bó sâu sắc, cảnh vật không chỉ hiện lên bằng hình dáng mà còn mang theo linh hồn của một vùng đất, một nếp sống và một nền văn hóa riêng. Trong dòng chảy văn học Việt Nam hiện đại, Đoàn Giỏi là nhà văn đã dành nhiều tình cảm cho miền đất phương Nam. Đoạn trích “Đi lấy mật” đã mở ra trước mắt người đọc bức tranh thiên nhiên U Minh tươi đẹp, giàu sức sống, đồng thời khắc họa vẻ đẹp của con người Nam Bộ cần cù, am hiểu và hòa hợp với thiên nhiên.
Đoàn Giỏi (1925 – 1989) là nhà văn nổi tiếng chuyên viết về cuộc sống, thiên nhiên và con người Nam Bộ. Các sáng tác của ông mang đậm hơi thở của vùng sông nước phương Nam với ngôn ngữ mộc mạc, giàu sức gợi và vốn hiểu biết phong phú về thiên nhiên. “Đi lấy mật” là đoạn trích thuộc tiểu thuyết Đất rừng phương Nam, kể về chuyến theo chân tía nuôi và thằng Cò vào rừng lấy mật ong của cậu bé An. Qua hành trình ấy, nhà văn đã tái hiện sinh động vẻ đẹp của rừng U Minh cùng những nét văn hóa lao động độc đáo của cư dân vùng đất cực Nam Tổ quốc.
Trước hết, đoạn trích gây ấn tượng sâu sắc bởi bức tranh thiên nhiên rừng U Minh trong trẻo, khoáng đạt và tràn đầy sức sống. Mở đầu tác phẩm là khung cảnh buổi sớm nơi đất rừng với bầu không khí mát lạnh của hơi nước sông ngòi, mương rạch hòa quyện cùng hương vị của cây cỏ. Ánh sáng bình minh trong vắt phủ lên cảnh vật khiến mọi thứ như được bọc trong một lớp thủy tinh óng ánh. Bằng khả năng quan sát tinh tế và ngòi bút giàu chất tạo hình, tác giả đã vẽ nên một không gian vừa yên bình vừa thơ mộng, làm nổi bật vẻ đẹp nguyên sơ của thiên nhiên phương Nam.
Khi mặt trời lên cao, bức tranh rừng U Minh trở nên nhộn nhịp và sinh động hơn. Tiếng chim hót líu lo vang lên khắp nơi, hương hoa tràm thơm ngây ngất lan tỏa trong gió, những con kì nhông liên tục thay đổi màu sắc trên thân cây mục, từng đàn chim cỏ bất ngờ tung cánh giữa trảng rộng. Hệ động thực vật hiện lên vô cùng phong phú với đủ màu sắc, âm thanh và hình dáng khác nhau. Từ ong mật, chuồn chuồn, mối cánh đến chim áo già, chim manh manh hay bầy vẹt mỏ đỏ, tất cả đã tạo nên một thế giới thiên nhiên đa dạng và giàu sức sống. Qua đó, người đọc cảm nhận được sự gắn bó mật thiết của nhà văn với vùng đất mà ông yêu quý.
Không chỉ làm nổi bật vẻ đẹp của thiên nhiên, đoạn trích còn giới thiệu nét văn hóa lao động đặc sắc của người dân U Minh qua nghề gác kèo ong. Qua lời kể của má nuôi An, người đọc hiểu rằng để có được những tổ ong đầy mật, người làm nghề phải am hiểu tập tính của loài ong, nắm rõ hướng gió, mùa hoa tràm và đặc điểm từng khu rừng. Công việc ấy đòi hỏi kinh nghiệm lâu năm, sự quan sát tinh tường và khả năng phán đoán chính xác. Nghề gác kèo ong vì thế không đơn thuần là một phương thức kiếm sống mà còn là kết tinh của tri thức dân gian được truyền lại qua nhiều thế hệ.
Qua nghề gác kèo ong, vẻ đẹp của con người Nam Bộ hiện lên thật đáng trân trọng. Đó là những con người lao động giàu kinh nghiệm, thông minh và gắn bó sâu sắc với thiên nhiên. Tía nuôi hiện lên như một người từng trải, am hiểu rừng sâu và luôn quan tâm đến những người đi cùng. Má nuôi là người phụ nữ chất phác nhưng sở hữu vốn hiểu biết phong phú về nghề lấy mật ong. Thằng Cò tuy hồn nhiên, tinh nghịch nhưng lại rất thành thạo những kiến thức của cuộc sống nơi đất rừng. Họ là đại diện cho lớp cư dân phương Nam chân chất, mộc mạc nhưng giàu vốn sống và khả năng thích nghi với môi trường tự nhiên.
Đoạn trích còn hấp dẫn bởi nghệ thuật kể chuyện đặc sắc. Tác giả lựa chọn điểm nhìn của nhân vật An, một cậu bé lần đầu được trải nghiệm công việc lấy mật ong trong rừng. Nhờ đó, mọi cảnh vật và sự việc đều hiện lên với cảm giác mới lạ, đầy hứng thú khám phá. Ngôn ngữ kể chuyện giản dị, giàu sắc thái Nam Bộ kết hợp với những chi tiết miêu tả chân thực đã tạo nên sức cuốn hút cho tác phẩm. Đồng thời, việc đan xen giữa yếu tố tự sự, miêu tả và những tri thức về thiên nhiên giúp đoạn trích vừa giàu giá trị nghệ thuật vừa giàu giá trị nhận thức.
Đoạn trích “Đi lấy mật” là bức tranh sinh động về thiên nhiên và con người vùng đất U Minh. Qua ngòi bút giàu cảm xúc của Đoàn Giỏi, rừng phương Nam hiện lên với vẻ đẹp trong trẻo, phong phú và đầy sức sống, còn con người hiện lên với sự cần cù, thông minh và giàu kinh nghiệm lao động. Tác phẩm không chỉ giúp người đọc thêm yêu thiên nhiên, yêu quê hương đất nước mà còn thêm trân trọng những giá trị văn hóa độc đáo được gìn giữ qua nhiều thế hệ trên mảnh đất phương Nam.
#hocvanbangcongthuc #cogiaodieuthu
Khóa học ngữ văn
