MỘT ĐÊM CHỜ LŨ VÀ NỖI DAY DỨT CỦA CON NGƯỜI TRONG “ĐÊM ĐỢI LŨ” CỦA HỒ VIỆT KHUÊ
– Ông bà nói trật lất! Lão Sơn cụt lầm bầm, tiếc nuối hàng xà cừ trốc gốc đánh ùm xuống dòng nước ngầu đỏ chảy xiết.
Mấy năm trước, mưa nguồn cả ngày nước mới đổ về khúc sông La ngang nhà lão. Năm ngoái, mưa nửa ngày nước về mấp mé ranh vườn. Còn năm nay, mưa chừng sôi nồi cơm, nước đã cuồn cuộn nuốt hàng xà cừ sát mép sông. Vợ lão Sơn đang thu dọn đồ đạc, còn đám trẻ đã di tản về nhà ông bà ngoại từ trưa để tránh lũ quét. Màu xanh núi rừng ngày càng hút tầm mắt. Ông bà nói “Ăn của rừng rưng rưng nước mắt”. Bọn ăn của rừng giàu có vì không vốn bốn lời, chúng tậu nhà tuốt ở Sài Gòn có bao giờ biết mưa rừng lũ quét. Chỉ có đám dân nghèo bám đất bám rừng mới rưng rưng nước mắt vì thiên nhiên trả thù, vì môi trường sinh thái bị hủy diệt. Ông bà không nói trật lất là gì!
Có tiếng í ới rồi Hoè chui rào sang với bao quần áo trên vai. Lão Sơn đánh trận nửa đời, gửi lại trận mạc một cánh tay hồi mới tập vác súng. Lão từ rừng ra, còn chú lính địa phương quân Hoè từ phố xá lên vùng kinh tế mới lập nghiệp lại chui vào rừng để đốn củi, hầm than. Lão Sơn quý Hoè vì anh dám nói thẳng với đại diện chính quyền địa phương là con anh ta đói, trong khi chờ khoai sắn cho củ, anh chỉ lượm mót chút của rừng. Hoè thách thức lão Sơn cụt chặn bắt những chiếc xe chở gỗ lóng dài ngoằn chạy rầm rập từ rừng ra quốc lộ 1 hằng đêm của bọn đại lâm tặc, chứ bắt tịch thu gánh củi bao than của bọn tiểu lâm tặc như Hoè chỉ thêm mang tiếng… pháp luật không nghiêm minh. Ngày xưa, nếu không có những gốc cây gỗ đường kính hai, ba người ôm phải nối song mây vào dây dù mới căng được chiếc võng thì khối chiến sĩ đã bị bọn tàu gáo quạt tróc đầu.
Lão Sơn cụt đem chuyện những chuyến xe gỗ dài ngoằn hỏi bạn cũ giờ làm lãnh đạo. Bạn cười khẩy. Làm sao giữ nổi rừng trước làn sóng di dân ồ ạt, thôi thì biến rừng thành đồi trà, vườn cà phê, vườn cây ăn trái. Đó cũng là cách giữ độ che phủ cho đất, giữ nguồn cho nước bằng cách thay chiếc áo xanh cho rừng mà còn tạo ra của cải cho xã hội, đem lại cuộc sống sung túc cho bao người. Về những chuyến xe gỗ dài ngoằn rầm rập hằng đêm, người bạn lãnh đạo thề trên tình đồng đội năm tháng đổ máu chiến trường là hoàn toàn hợp pháp. Chỉ thời gian ngắn, lời thề theo người bạn cũ bay vào… trại giam vì giấy phép cho khai thác một thì bọn họ câu kết khai thác gấp mười. Rừng xanh nào mà còn!
Con tắc kè ló đầu khỏi cây cột ống tre thao láo nhìn hai người đàn ông uống trà trên bộ ván trước hiên, lạnh lùng buông hai tiếng “tắc kè” mà Hoè thường nhại “hết rừng”. Nước vẫn sôi sùng sục ngang khúc sông ôm quanh đất lão Sơn cụt. Vợ lão đang treo chiếc rổ đựng mẹ con bầy gà mới nở lên cây cột giữa nhà, góp chuyện:
– Tại sao người ta chặt cây gỗ cả người ôm rồi trồng lại cây con bằng chiếc đũa, hả ông cụt?
– Chuyện phá rừng nguyên sinh để trồng rừng non, bà phải hỏi mấy thằng Bảy Rưỡi.
Lão Sơn cụt tưng tửng. Bảy Rưỡi là tên chung mà lão đặt cho bọn phá rừng. Từ anh Ba anh Bảy đến thằng Mỹ thằng Pháp, lão đều gọi chung là Bảy Rưỡi để khỏi mếch lòng vì cha mẹ có đẻ đứa con nào chỉ có nửa người đâu mà đặt là Rưỡi. Hoè xía:
– Thằng Bảy Rưỡi – phó – chủ – tịch mới ra tù hôm
Bọn phá rừng nổi tiếng ở quê lão mà báo chí gọi là “phá rừng vô địch quốc gia” bị kêu án mỗi thằng hai mươi năm tù, mới thụ án sáu, bảy năm đã được đặc xá về với vợ con; có thằng về chỉ còn con vì vợ đã ôm của ăn của rừng đi lấy chồng khác. Trường hợp này coi chừng ông bà nói đúng là “ăn của rừng rưng rưng nước mắt”, à ta!
– Vợ chồng thằng Bảy Rưỡi – giám – đốc ra tòa ly dị rồi…
Bà Sơn cụt ghé ngồi bên chồng, uống một tách trà cho thấm giọng mới thông tin sốt dẻo, sau khi cột chặt miệng cái bao nhét đầy những thứ giá trị nhất. Năm nào cũng chạy lũ nên bà có thừa kinh nghiệm chọn cái gì, bỏ cái gì mà không tiếc rẻ nếu lũ có quét cả nhà đổ xuống sông. (…)
(Trích Những ngày trở gió, Hồ Việt Khuê, NXB Hội nhà văn, 2018)
Khi dòng nước cuộn lên, khi đất đai sạt lở, khi sự sống bị đe dọa, con người mới giật mình nhận ra cái giá của lòng tham và sự vô cảm. Trong văn xuôi đương đại Việt Nam, Hồ Việt Khuê là cây bút không né tránh những vấn đề gai góc ấy. Truyện ngắn “Đêm đợi lũ” không đơn thuần kể về một đêm mưa lũ ở miền rừng núi, mà là câu chuyện về sự trả thù lặng lẽ nhưng khốc liệt của thiên nhiên, về những phận người nhỏ bé bị cuốn vào vòng xoáy phá rừng, bảo vệ rừng, và về lương tri con người trong cơn biến động của thời cuộc.
Văn xuôi Hồ Việt Khuê mang đậm màu sắc hiện thực, ít trau chuốt hình thức nhưng giàu sức nặng tư tưởng. Nhà văn không xây dựng những xung đột kịch tính theo lối truyền thống, mà để hiện thực tự cất tiếng nói qua đối thoại, qua ký ức, qua những chi tiết đời thường tưởng như vụn vặt. Trong “Đêm đợi lũ”, cốt truyện diễn ra chậm rãi trong không gian chờ đợi: chờ lũ về, chờ nhà trôi, chờ rừng sụp đổ. Chính nhịp kể bình thản ấy lại khiến bi kịch trở nên ám ảnh, bởi nó cho thấy tai họa không đến bất ngờ, mà là kết quả tất yếu của một quá trình tàn phá kéo dài.
Không gian thiên nhiên trong truyện hiện lên đầy bất an và dữ dội. Dòng sông La vốn hiền hòa nay trở nên “ngầu đỏ”, “chảy xiết”, “nuốt hàng xà cừ trốc gốc”. Chỉ trong vài năm, quy luật của nước đã thay đổi đến đáng sợ: từ mưa cả ngày, đến mưa nửa ngày, rồi chỉ “mưa chừng sôi nồi cơm” là nước đã cuồn cuộn tràn về. Những chi tiết so sánh mộc mạc mà ám ảnh ấy không chỉ phản ánh hiện tượng lũ lụt, mà còn là lời cảnh báo về sự mất cân bằng sinh thái. Thiên nhiên trong “Đêm đợi lũ” không còn là phông nền, mà trở thành một “nhân vật” mang trong mình cơn giận bị dồn nén suốt nhiều năm.
Trung tâm của câu chuyện là hình ảnh lão Sơn cụt, một người lính già mất cánh tay trong chiến tranh, gắn bó cả đời với rừng. Lão không chỉ là chứng nhân của lịch sử chiến tranh, mà còn là chứng nhân của sự tàn lụi môi trường. Với lão, rừng từng là nơi che chở cho con người, là đồng đội thầm lặng trong những năm tháng sinh tử. Chính vì thế, nỗi phẫn uất của lão trước cảnh phá rừng mang màu sắc của một sự phản bội. Lời lão lẩm bẩm “ông bà nói trật lất” không chỉ là phản bác một câu tục ngữ, mà là sự phủ nhận những cách ngụy biện quen thuộc cho lòng tham. Qua lão Sơn cụt, Hồ Việt Khuê gửi gắm tiếng nói của lương tri – tiếng nói của người từng hi sinh cho đất nước nhưng nay bất lực nhìn đất đai bị tàn phá.
Bên cạnh lão Sơn cụt, nhân vật Hoè mở ra một tầng hiện thực khác: bi kịch của người nghèo trong vòng xoáy sinh tồn. Hoè là “tiểu lâm tặc”, vào rừng đốn củi, hầm than để nuôi con qua ngày. Anh không đại diện cho cái ác, mà là nạn nhân của đói nghèo và bất công. Chi tiết Hoè thách thức lão Sơn cụt hãy chặn những xe gỗ lớn thay vì bắt những gánh củi nhỏ đã phơi bày một nghịch lí cay đắng: pháp luật dường như chỉ nghiêm với kẻ yếu, còn những “đại lâm tặc” thì núp bóng quyền lực và giấy phép. Qua Hoè, nhà văn đặt ra câu hỏi nhức nhối về ranh giới mong manh giữa tội lỗi và sinh tồn.
Hình ảnh “Bảy Rưỡi” là một sáng tạo giàu tính biểu tượng và mỉa mai. Đó không còn là tên một cá nhân, mà là cách gọi chung cho cả một tập đoàn phá rừng: từ kẻ trực tiếp cưa cây đến những kẻ đứng sau quyền lực. Việc những “Bảy Rưỡi” sớm được đặc xá, trở về đời sống riêng, trong khi rừng xanh đã không thể hồi sinh, đã phơi bày sự lệch lạc của công lý. Ở đó, thiên nhiên là kẻ chịu án chung thân, còn con người thì dễ dàng thoát tội. Giọng điệu tưng tửng của lão Sơn cụt càng làm cho sự thật trở nên chua chát.
Truyện đặc biệt ám ảnh bởi những chi tiết nhỏ mà giàu sức gợi. Tiếng con tắc kè kêu “tắc kè” được Hoè nhại thành “hết rừng” như một lời phán quyết lạnh lùng của tự nhiên. Câu hỏi của bà vợ lão Sơn cụt: “Tại sao người ta chặt cây gỗ cả người ôm rồi trồng lại cây con bằng chiếc đũa?” vừa ngây thơ vừa sắc bén, phơi bày sự phi lí của những giải pháp bảo vệ rừng hình thức. Những chi tiết ấy không cần lời bình luận, tự thân đã mang sức nặng tố cáo.
“Đêm đợi lũ” không kết thúc bằng một thảm họa cụ thể, nhưng dư âm của nó là cảm giác bất an kéo dài. Lũ chưa hẳn đã cuốn trôi tất cả, nhưng sự đổ vỡ thì đã bắt đầu từ lâu. Truyện đặt con người trước một sự thật không thể né tránh: khi rừng bị tàn phá, khi thiên nhiên bị coi như đối tượng khai thác vô hạn, thì chính con người sẽ là kẻ gánh chịu hậu quả đầu tiên và nặng nề nhất.
Bằng giọng văn tỉnh táo, hiện thực mà thấm đẫm nỗi xót xa, Hồ Việt Khuê đã biến “Đêm đợi lũ” thành một lời cảnh tỉnh sâu sắc về mối quan hệ giữa con người và tự nhiên. Truyện không chỉ kể một đêm chờ lũ, mà còn là câu chuyện về sự chờ đợi của lương tri: liệu con người có kịp thức tỉnh trước khi mọi cánh rừng chỉ còn tồn tại trong ký ức?
———————————-
Học Văn cô Diệu Thu – Hệ sinh thái học văn toàn diện, dễ dàng
Hotline: 0833.873.089
Địa chỉ: 68 Thụy Phương, Đông Ngạc, Hà Nội
Website: https://letrandieuthu.com
#hocvanbangcongthuc #cogiaodieuthu #hocvancodieuthu #demdoilu #hovietkhue #vanhoc #phantichvanhoc #nghiluanvanhoc #NLVH #phantichtruyen
