TRUYỆN NGẮN “CON THÚ LỚN NHẤT” – RANH GIỚI SỤP ĐỔ GIỮA NGƯỜI VÀ THÚ
Ngày ấy, ở Hua Tát có một gia đình ngụ cư không biết ở mường nào chuyển đến. Họ dựng nhà ở ngoài rìa bản, chỗ gần rừng ma. Nhà ấy chỉ có hai vợ chồng đều luống tuổi. Họ đi đâu cũng có nhau. Người vợ lúc nào cũng âm thầm, im lặng, suốt ngày không hề thấy nói một tiếng. Người chồng cao lớn, gầy guộc, mặt sắt lại, mũi như mỏ chim. Đôi mắt của lão đục và sâu hoắm, phảng phất những tia lân tinh lạnh lẽo. Người chồng là tay thợ săn cự phách. Khẩu súng kíp trong tay lão như có mắt. Mỗi khi khẩu súng giơ lên, ít khi có chim chóc hoặc thú rừng nào thoát chết. Đằng sau nhà lão, lông chim, xương thú chất đầy thành đống. Những đống lông chim xơ xác đen xỉn như màu mực tàu, còn những đống xương thú màu đá vôi thì lốm đốm những vệt nước tủy vàng khè, hôi hám. Những đống ấy to như những cái mả. Lão thợ săn như là hiện thân thần Chết của rừng. Chim chóc và thú rừng sợ hãi lão. Cánh thợ săn ở Hua Tát vừa ghen tị, vừa bất bình với lão. Lão không tha bất cứ con vật nào trong tầm súng của mình. Có người kể rằng đã tận mắt nhìn thấy lão bắn chết một con công đang múa. Một con công đang múa nhé: cái đầu cong như lá lúa, cái đuôi xòe nửa vòng cung với đủ mầu sắc, tia nắng mặt trời hắt ánh lửa lấp lánh như vàng, đôi chân kheo khéo lươn vòng. Chỉ có tình yêu thì mới lượn vòng tinh tế như thế. Con công đang múa, thế mà – “Đùng” – khẩu súng trong tay lão già giật lên, phụt ra một lưỡi lửa đỏ. Con công ngã gục, cái cánh có ánh cầu vồng ngũ sắc nhòe máu. Vợ lão già đến, khô đét, đen ngòm, âm thầm nhặt con công cho vào cái lếp( l) sau lưng.
Tuy vậy, suốt đời lão già chỉ săn được những con chim, con thú bình thường. Lão già chưa bao giờ săn được con thú lớn ba bốn tạ thịt. Khẩu súng lão chỉ bắn được những con vật nhỏ ngu ngốc. Đấy chính là điều lão già khổ tâm, dằn vặt.. Cả bản Hua Tát xa lánh vợ chồng lão, không ai nói chuyện, chơi bời với gia đình lão. Nhìn thấy vợ chồng lão, người ta tránh ngoắt đi. Cứ thế, lão thợ săn sống cô đơn bên người vợ âm thầm.
Cuối năm ấy, ở Hua Tát động rừng, cây cối xơ xác, chim chóc trốn biệt, không có dấu chân một con thú nào trong rừng. Chưa bao giờ người Hua Tát sống vất vả đến thế. Người ta đồn là Then (2) bắt đầu trừng phạt. Lão thợ săn ngụ cư kiếm ăn cũng rất khó khăn. Vợ chồng lão lang thang khắp rừng. Lần đầu tiên trong đời lão già gặp phải cảnh này. Ba tuần trăng, khẩu súng của lão không hề được nổ. Lão già dậy từ gà gáy canh ba vác súng đi đến tối mịt. Người vợ gầy của lão không còn đủ sức đi theo chồng nữa. Mụ ở nhà nhóm lửa chờ đợi. Ngọn lửa mụ nhóm như có ma ám, không đỏ mà lại xanh lét như mắt chó sói.
Lần ấy lão già đi vắng cả tuần liền. Người lão mệt lả. Đầu gối lão chùn xuống, các bắp thịt nhão ra tưởng chừng có thể dùng tay bấu được như bấu những con vắt nhẽo bết máu. Lão đã lết khắp nơi mà không gặp gì. Đến một con chim sâu, thậm chí một con bướm lão cũng không thấy. Lão hoang mang sợ hãi. Then đã trừng phạt thế gian như lời người ta đồn đại hay chăng?
Cuối cùng, mệt lả, lão già kiệt sức phải lết về nhà. Đến con suối đầu bản, lão dừng lại nhìn về nhà mình. Nhà lão có ánh lửa, cái ánh lửa xanh lét, chắc là vợ lão vẫn thức đợi chồng. Lão nhắm nghiền đôi mắt đục và sâu hoắm lại. Ngẫm nghĩ một lát, lão lộn lại rừng. Mũi lão đã đánh hơi thấy mùi thú…Lão gặp may thật. Lão đã nhìn thấy nó. Cái con công ấy đang múa. Kìa, đôi chân con công di chuyển nhẹ nhàng về phía bên phải, cái đuôi xòe thành đường tròn lại dịch về phía bên trái, cái ánh xanh gay gắt trên túm lông dầu của nó rực rỡ làm sao! Lão già giương súng lên: – Đùng! Phát súng nổ. Lão nghe thấy tiếng rú thất thanh. Lão chạy lại con thú bị bắn ngã. Đấy là vợ lão. Mụ đi ra rừng đợi lão, tay mụ còn cầm bộ lông chim công.
Lão thợ săn nằm sấp xuống, úp mặt vào vũng máu trên lớp lá mục nồng nồng, ngái và hôi như mùi chuột.
Miệng lâo hộc lên như tiếng lợn lòi. Lão nằm thế rất lâu. Mây đen sà xuống thấp, khu rừng tối sẫm, nóng hâm hấp như da người sốt. Gần sáng, lão già .. bỗng đứng phắt dậy nhanh như con sóc. Lão nảy ý định lấy xác vợ lão làm mồi để săn con thú, con thú lớn nhất đời mình. Lão nằm trong bụi cây gần cái xác thối rữa của vợ lão một sải tay, đạn lên nòng, khắc khoải chờ đợi. Nhưng Then đã trừng phạt lão. Không có con thú nào đến với lão, chỉ có cái chết đến với lão.
Ba ngày sau, người ta lôi cái xác còng queo của lão ra khỏi bụi cây. Một vết đạn xuyên qua trán lão. Lão đã bắn được con thú lớn nhất đời mình.
(1) Giỏ đeo, (2)Ông Trời
(Những ngọn gió Hua Tát – Tuyển tập truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, NXB Văn hoá Thông tin, Hà Nội, 2002, tr. 320)
Giữa rừng núi Hua Tát mịt mùng, nơi cái chết hiện diện lặng lẽ như một quy luật, “Con thú lớn nhất” không kể về thú dữ trong rừng sâu mà kể về sự dữ dằn âm ỉ trong chính lòng người, thứ bản năng khi được nuôi dưỡng bởi bạo lực sẽ quay lại nuốt chửng con người một cách lạnh lùng và tất yếu. Nguyễn Huy Thiệp không kể một câu chuyện để người đọc thương xót, mà dựng nên một hành trình trượt dài của con người vào vùng tối bản năng, nơi ranh giới giữa người và thú dần dần bị xóa nhòa. Bi kịch trong truyện không đến từ một khoảnh khắc bùng nổ, mà được tích tụ âm thầm qua từng phát súng, từng xác thú, để rồi khép lại bằng một cái chết lạnh lùng đến rợn người.
Nguyễn Huy Thiệp là một trong những gương mặt đặc biệt của văn học Việt Nam sau 1975, nổi bật với lối viết sắc lạnh, trực diện và không né tránh những góc khuất của con người. Văn chương của ông thường đặt con người vào mối quan hệ căng thẳng với thiên nhiên, với cộng đồng và với chính bản thân mình. Con thú lớn nhất tiêu biểu cho phong cách ấy. Truyện không chỉ kể về một lão thợ săn ở Hua Tát, mà còn là một ẩn dụ sâu xa về hành trình tha hóa của con người khi bạo lực và khát vọng thống trị trở thành lẽ sống duy nhất.
Trước hết, truyện gây ấn tượng mạnh bởi hình tượng người thợ săn, kẻ được miêu tả như hiện thân của cái chết trong rừng. Ngoại hình lão mặt sắt lại, đôi mắt đục và sâu hoắm, ánh nhìn lân tinh lạnh lẽo đã gợi cảm giác bất an ngay từ đầu. Khẩu súng trong tay lão như có mắt, mỗi lần giương lên là một sinh linh bị tước đoạt. Đằng sau nhà lão, lông chim và xương thú chất thành đống to như những cái mả, một hình ảnh ghê rợn cho thấy mức độ tàn sát vô độ. Đáng sợ hơn cả, lão bắn giết không vì sinh tồn mà vì thói quen và khoái cảm săn đuổi, đến mức cả bản Hua Tát vừa ghen tị vừa khiếp sợ, dần xa lánh vợ chồng lão như tránh một tai họa.
Chi tiết con công đang múa bị bắn chết là một trong những hình ảnh giàu tính biểu tượng nhất của truyện. Con công không chỉ là một con vật, mà là biểu tượng của cái đẹp, của sự sống và của tình yêu. Chỉ có tình yêu thì mới lượn vòng tinh tế như thế, nhưng cái đẹp ấy đã bị một phát súng lạnh lùng xóa sổ. Qua chi tiết này, Nguyễn Huy Thiệp cho thấy khi con người quen tay giết chóc, họ không còn khả năng nhận ra hay trân trọng vẻ đẹp của sự sống. Bạo lực không chỉ hủy diệt thiên nhiên mà còn làm khô cằn cảm xúc và nhân tính.
Tuy nhiên, nghịch lý cay đắng nằm ở chỗ, suốt đời lão thợ săn lại chưa bao giờ bắn được con thú lớn. Chính điều đó trở thành nỗi dằn vặt âm ỉ, gặm nhấm tâm trí lão. Con thú lớn không đơn thuần là một con vật nặng vài ba tạ, mà là biểu hiện cho khát vọng chinh phục, cho nhu cầu chứng tỏ sức mạnh và quyền lực của con người trước tự nhiên. Khi khát vọng ấy không được thỏa mãn, nó biến thành ám ảnh, đẩy lão ngày càng lún sâu vào con đường săn đuổi mù quáng.
Khi rừng động, chim chóc biến mất, thú rừng trốn biệt, cả bản Hua Tát rơi vào đói khổ, đó không chỉ là biến cố thiên nhiên mà còn mang ý nghĩa của sự trừng phạt trong quan niệm Then Trời. Đây là bước ngoặt quan trọng của truyện. Lần đầu tiên trong đời, người thợ săn rơi vào trạng thái bất lực, hoang mang. Ba tuần trăng không tiếng súng nổ khiến lão nhận ra sự trống rỗng của chính mình. Khi bạo lực không còn phát huy tác dụng, con người lộ rõ sự cô độc và yếu đuối trước quy luật khắc nghiệt của đời sống.
Bi kịch được đẩy đến đỉnh điểm khi lão bắn chết chính người vợ của mình trong ảo giác con công đang múa. Người vợ âm thầm, nhẫn nhịn, đi theo lão suốt đời, chính là phần nhân tính còn sót lại trong cuộc đời lão thợ săn. Việc lão nhầm vợ thành thú cho thấy sự sụp đổ hoàn toàn của ranh giới đạo đức. Lão không còn phân biệt được đâu là người, đâu là thú, đâu là sự sống cần được gìn giữ. Đó là khoảnh khắc con người tự tay giết chết phần người trong chính mình.
Cái kết truyện lạnh lẽo và ám ảnh khi lão dùng xác vợ làm mồi để săn con thú lớn nhất, rồi chết bởi chính viên đạn xuyên qua trán. Câu văn kết lão đã bắn được con thú lớn nhất đời mình mang ý nghĩa mỉa mai và cay nghiệt. Con thú lớn nhất không ở rừng sâu, mà ở ngay trong lòng lão. Đó là sự tàn bạo, lòng tham và bản năng hủy diệt. Khi con người không chế ngự được con thú ấy, cái chết trở thành kết cục tất yếu.
Có thể khẳng định rằng Con thú lớn nhất là một truyện ngắn giàu giá trị tư tưởng và nghệ thuật. Nguyễn Huy Thiệp không kể một câu chuyện để người đọc khóc, mà buộc người đọc phải rùng mình suy ngẫm. Truyện là lời cảnh tỉnh sâu sắc về mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên, đồng thời phơi bày mặt tối trong bản chất con người khi đạo đức bị thay thế bằng bạo lực.
Bằng giọng văn lạnh, giàu tính biểu tượng và kết cấu chặt chẽ, Con thú lớn nhất không chỉ ám ảnh bởi cái chết, mà còn khiến người đọc day dứt bởi một câu hỏi lớn. Khi con người tự cho mình quyền tước đoạt sự sống, liệu họ còn xứng đáng được gọi là con người hay không. Và phải chăng, con thú đáng sợ nhất mà mỗi người cần đối diện chính là phần tăm tối ẩn sâu trong chính mình.
———————————-
Học Văn Bằng Công Thức Cùng Cô Diệu Thu: Học văn từ gốc – Công thức dễ dàng
Hotline: 0833.873.089
Địa chỉ: 68 Thụy Phương, Đông Ngạc, Hà Nội
Website: https://letrandieuthu.com
#hocvanbangcongthuc #cogiaodieuthu #hocvancodieuthu #conthulonnhat #nguyenhuythiep #huynhthanhhong #vanhoc #phantichvanhoc #nghiluanvanhoc #NLVH #phantichtruyen
